Vì sao cúm A có thể gây biến chứng?
Biến chứng cúm A có thể xảy ra khi virus trực tiếp làm tổn thương mô phổi, người bệnh bội nhiễm vi khuẩn hoặc bệnh nền chuyển nặng.
Cúm A là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do virus influenza A gây ra. Phần lớn người bệnh có triệu chứng cấp tính ở đường hô hấp trên như sốt, ho, đau họng, đau đầu, đau cơ và mệt mỏi, sau đó hồi phục trong khoảng một tuần. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, virus có thể lan xuống đường hô hấp dưới, gây viêm phổi do virus cúm.
Bác sĩ Hồng nghe phổi cho người đến khám sức khỏe. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Theo bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Lê Phương Hồng, đơn vị Bệnh Nhiễm, khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, khi virus xâm nhập vào phổi, chúng gây tổn thương tế bào và kích hoạt phản ứng viêm. Nếu tình trạng viêm lan đến các phế nang (những túi khí nhỏ giúp đưa oxy vào máu) dịch viêm có thể tràn vào, cản trở quá trình trao đổi khí. Người bệnh phải thở nhanh hơn để bù đắp lượng oxy thiếu hụt. Nếu phổi tổn thương nặng, lượng oxy trong máu giảm sâu, dẫn đến suy hô hấp.
Để chống lại virus, hệ miễn dịch tạo ra phản ứng viêm. Tuy nhiên, nếu phản ứng này quá mạnh có thể làm tổn thương phổi nghiêm trọng hơn, khiến bệnh diễn tiến nặng. Trong trường hợp nặng, tổn thương lan tỏa có thể dẫn đến hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS). Người bệnh khó trao đổi oxy dù đã được hỗ trợ hô hấp thông thường, có thể cần thở oxy lưu lượng cao, thông khí không xâm nhập hoặc thở máy tùy mức độ.
Suy hô hấp cấp tiến triển là biến chứng nghiêm trọng, thường liên quan đến tổn thương phổi lan rộng và phản ứng viêm toàn thân, cần được theo dõi và điều trị tại bệnh viện.
Một nguyên nhân quan trọng khác gây viêm phổi nặng sau cúm là bội nhiễm vi khuẩn. Virus cúm làm tổn thương tế bào biểu mô, ảnh hưởng cơ chế làm sạch đường thở và làm suy yếu một số hàng rào bảo vệ tại phổi, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển.
Các vi khuẩn như phế cầu và tụ cầu có thể gây viêm phổi thứ phát sau cúm. Người bệnh đôi khi có biểu hiện ban đầu giảm sốt, bớt mệt nhưng sau đó sốt trở lại, ho nặng hơn, đờm tăng, đau ngực hoặc khó thở. Một số trường hợp có thể tiến triển thành nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan.
Bác sĩ Hồng khuyến cáo người bệnh không nên tự dùng kháng sinh ngay khi mắc cúm. Kháng sinh không tiêu diệt virus cúm, chỉ được sử dụng khi có chỉ định phù hợp.
Người mắc hen phế quản hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhiễm virus cúm có thể làm tăng viêm đường thở, tăng tiết đờm và khởi phát đợt cấp. Đường thở vốn đã hẹp hoặc nhạy cảm khiến người bệnh dễ xuất hiện khò khè, ho nhiều và khó thở hơn.
Cúm cũng có thể làm nặng suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, đái tháo đường và một số bệnh mạn tính khác. Nguy cơ cúm trở nặng thường cao hơn ở người từ 65 tuổi, phụ nữ mang thai, người mắc bệnh tim phổi mạn tính, tiểu đường, bệnh thận, bệnh thần kinh hoặc suy giảm miễn dịch. Tuy nhiên, người trưởng thành khỏe mạnh cũng không hoàn toàn miễn nhiễm với biến chứng nặng.
Người mắc cúm A cần được đánh giá y tế khẩn cấp khi xuất hiện khó thở, thở nhanh hoặc gắng sức, đau tức ngực kéo dài, môi tím, lú lẫn hoặc tình trạng toàn thân xấu đi nhanh chóng. Bác sĩ có thể đánh giá nhịp thở, độ bão hòa oxy trong máu (SpO2), khám phổi, chụp X-quang hoặc CT ngực và thực hiện các xét nghiệm cần thiết để xác định mức độ tổn thương. Tùy tình trạng, người bệnh có thể cần hỗ trợ oxy, thuốc kháng virus, điều trị nhiễm khuẩn nếu có chỉ định và các biện pháp hỗ trợ chức năng cơ quan.
Theo bác sĩ Hồng, tiêm vaccine cúm hằng năm theo khuyến cáo là biện pháp quan trọng giúp giảm nguy cơ mắc cúm và bệnh diễn biến nặng.
Nhật Thành
| Độc giả gửi câu hỏi về bệnh hô hấp tại đây để bác sĩ giải đáp |