Suy giãn tĩnh mạch mức độ nào cần phẫu thuật?
Tôi bị suy giãn tĩnh mạch, gần đây thấy mạch máu nổi gồ ghề, chân tê và nhức mỏi nhiều thì cần mổ chưa? (Cẩm, 32 tuổi, Cần Thơ)
Trả lời:
Suy giãn tĩnh mạch chi dưới xảy ra khi các tĩnh mạch bị suy yếu, khiến máu khó trở về tim và ứ đọng trong lòng mạch. Tình trạng này làm tăng áp lực tĩnh mạch, khiến mạch máu giãn, nổi ngoằn ngoèo dưới da, gây đau nhức, phù nề hoặc chuột rút về đêm.
Theo phân loại y khoa quốc tế (CEAP), suy giãn tĩnh mạch tiến triển qua 7 cấp độ từ C0 đến C6. Trong đó, C0 chưa có dấu hiệu nhìn thấy hoặc sờ thấy. C1 xuất hiện các tĩnh mạch mạng nhện, tĩnh mạch dạng lưới. C2 có tĩnh mạch giãn nổi rõ. C3 biểu hiện là phù chân. C4 có dấu hiệu đổi da do bệnh tĩnh mạch mạn tính. C5 là loét đã lành và C6 là loét đang hoạt động.
Thông thường từ giai đoạn C0-C2 có thể được tư vấn các phương pháp điều trị bảo tồn gồm vận động phù hợp, tránh đứng hoặc ngồi bất động quá lâu, kiểm soát cân nặng, kê cao chân khi nghỉ và sử dụng vớ áp lực y khoa theo hướng dẫn. Thuốc trợ tĩnh mạch có thể giúp giảm một số triệu chứng nhưng không khắc phục được tình trạng van tĩnh mạch đã suy.
Người bệnh được cân nhắc can thiệp khi bệnh ở giai đoạn C3 trở đi, hoặc điều trị nội khoa không hiệu quả. Tuy nhiên, phân độ CEAP không phải căn cứ duy nhất để quyết định có cần can thiệp hay không. Người bệnh ở mức C2 nhưng thường xuyên đau nhức, nặng chân, ảnh hưởng sinh hoạt và được xác định có trào ngược tĩnh mạch phù hợp vẫn có thể được xem xét điều trị bằng kỹ thuật ít xâm lấn. Ngược lại, một số trường hợp tĩnh mạch nổi rõ nhưng ít triệu chứng, chưa có chỉ định can thiệp, có thể được theo dõi và điều trị bảo tồn.
Bác sĩ Nghĩa (bên phải) đốt laser điều trị suy giãn tĩnh mạch cho người bệnh. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Bác sĩ thường kết hợp khám lâm sàng với siêu âm Doppler khảo sát hệ tĩnh mạch nông, sâu, đánh giá chiều dòng máu, vị trí van suy, mức độ trào ngược và các nhánh tĩnh mạch giãn. Kết quả giúp xác định nguồn gây ứ trệ tuần hoàn, đồng thời phát hiện những bất thường cần lưu ý trước khi lựa chọn phương pháp điều trị.
Khi có chỉ định can thiệp, bác sĩ thường ưu tiên kỹ thuật can thiệp nội mạch ít xâm lấn, giúp người bệnh ít đau, phục hồi nhanh và xuất viện trong ngày. Điển hình là kỹ thuật đốt tĩnh mạch bằng sóng cao tần (RFA) hoặc laser nội mạch (EVLA). Đây là hai kỹ thuật sử dụng năng lượng nhiệt làm xơ hóa, đóng kín tĩnh mạch suy, giúp dòng máu chuyển hướng sang các tĩnh mạch khỏe mạnh.
So với phẫu thuật bóc tĩnh mạch truyền thống, những phương pháp nội mạch thường ít xâm lấn, hạn chế tổn thương mô xung quanh, giảm đau sau thủ thuật. Nhiều trường hợp có thể xuất viện trong ngày nếu sức khỏe ổn định.
Bơm keo sinh học cũng là một phương pháp điều trị ít xâm lấn được ứng dụng rộng rãi. Bác sĩ đưa một lượng keo y khoa chuyên dụng vào đoạn tĩnh mạch bệnh qua đường ống thông siêu nhỏ để dính chặt thành mạch. Kỹ thuật này không dùng nhiệt, loại bỏ nguy cơ tổn thương thần kinh hay bỏng rát. Người bệnh không cần tiêm gây tê nhiều vị trí, phù hợp cho người lớn tuổi và có nhiều bệnh nền.
Với các búi tĩnh mạch nông nhỏ còn sót lại hoặc nhánh tĩnh mạch gồ ghề ngoài da, bác sĩ có thể phối hợp tiêm xơ tạo bọt hoặc phẫu thuật lấy bỏ búi tĩnh mạch vi phẫu (Muller) để điều trị. Mục tiêu điều trị là làm mất những đường gân xanh nổi trên chân, xử lý nguồn trào ngược tĩnh mạch, giảm đau nhức và hạn chế các biến chứng của suy tĩnh mạch mạn tính.
Trường hợp của bạn, mạch máu bắt đầu nổi gồ ghề kèm tê nhức và mỏi chân nhiều cho thấy bệnh có thể đã tiến triển đến giai đoạn từ C2 trở đi. Bạn nên khám chuyên khoa mạch máu để đánh giá chính xác mức độ bệnh. Từ đó, bác sĩ tư vấn phương pháp điều trị bảo tồn hay can thiệp ít xâm lấn phù hợp trước khi bệnh tiến triển gây biến chứng.
ThS.BS.CKI Nguyễn Đức Nghĩa
Trung tâm Ngoại Lồng ngực - Mạch máu
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM
| Độc giả đặt câu hỏi bệnh tim mạch tại đây để bác sĩ giải đáp |