Xạ trị là một trong những phương pháp chính trong điều trị ung thư phổi, bên cạnh phẫu thuật, hóa trị và gần đây là thuốc miễn dịch, thuốc nhắm trúng đích.
BS.CKII Bùi Lê Phước Thu Thảo, Phó khoa Xạ trị, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết để đưa ra chỉ định xạ trị chính xác, tối ưu, bác sĩ cần xác định giai đoạn bệnh, loại ung thư, vị trí khối u, đồng thời kiểm tra chức năng hô hấp, thể trạng tổng quát của người bệnh. Chỉ định xạ trị đúng thời điểm giúp kiểm soát bệnh hiệu quả, có thể triệt căn ung thư, điều trị giảm nhẹ, góp phần duy trì chất lượng sống, kéo dài thời gian sống còn cho người bệnh.
Ung thư phổi được chia làm hai loại gồm ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) chiếm khoảng 87% tổng số ca ung thư phổi và ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) chiếm 13% còn lại. Chỉ định xạ trị với hai nhóm bệnh này cũng khác nhau.
Với ung thư phổi không tế bào nhỏ, xạ trị được chỉ định ở bệnh nhân phát hiện sớm nhưng không thể phẫu thuật do khối u nằm vị trí khó, như gần các mạch máu lớn, xâm lấn trung thất, gần khí quản hoặc người bệnh mắc các bệnh lý đi kèm nặng.
Ở giai đoạn sớm, bác sĩ thường sử dụng phương pháp xạ trị định vị thân (SBRT) thay thế phẫu thuật để kiểm soát khối u, giảm kích thước đồng thời ít tác dụng phụ. SBRT cho phép đưa liều xạ cao đến chính xác khối u với số lần xạ hạn chế, thường khoảng 1-5 lần xạ, hạn chế liều xạ đến mô phổi lành. Kỹ thuật này phù hợp ở các giai đoạn sớm, khối u phổi nguyên phát kích thước nhỏ và chưa di căn hạch.
Ở giai đoạn u tiến xa (giai đoạn ba), bên cạnh phẫu thuật, xạ trị thường kết hợp hóa trị đồng thời, nhất là trong trường hợp di căn hạch nhiều, thể trạng bệnh nhân kém, không thuận lợi cho phẫu thuật. Hóa xạ trị đồng thời nằm trong liệu pháp điều trị đa mô thức nhằm tăng khả năng tiêu diệt khối u, hạn chế u xâm lấn, di căn, kéo dài thời gian sống cho người bệnh.
Xạ trị được chỉ định sau mổ trong một số trường hợp sau phẫu thuật u phổi, bờ cắt còn tế bào ung thư, nguy cơ tái phát cao hoặc di căn hạch nhiều chặng.
Bác sĩ Thảo cùng kỹ thuật viên động viên người bệnh trước khi chụp CT mô phỏng xạ trị. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Bác sĩ Thảo cho biết với ung thư phổi tế bào nhỏ, u tiến triển nhanh, lan rộng sớm, có xu hướng di căn não cao nên vai trò xạ trị khác nhau ở nhiều giai đoạn điều trị.
Giai đoạn ung thư phổi lan rộng, không thuận lợi để xạ trị đầu tiên. Nếu người bệnh đáp ứng tốt hóa trị, thuốc nhắm trúng đích hoặc thuốc miễn dịch, u nhỏ lại, bác sĩ có thể chỉ định xạ trị góp phần giảm nguy cơ tái phát, tăng khả năng sống còn.
Đồng thời khi ở giai đoạn u lan rộng, bác sĩ có thể chỉ định xạ trị dự phòng não (PCI) - xạ trị liều thấp vào toàn bộ não khi chưa di căn, để giảm nguy cơ co giật, liệt nửa người, rối loạn trí nhớ, hôn mê.
Ở giai đoạn tiến xa hoặc di căn, mục tiêu của xạ trị không nhằm điều trị triệt căn mà công dụng chính là điều trị giảm nhẹ các triệu chứng như đau, ho ra máu, tắc nghẽn phế quản, khó thở, chống chèn ép tủy sống giúp bảo tồn khả năng vận động. Trong một số trường hợp di căn não, xạ trị hỗ trợ kiểm soát ổ di căn giảm nhẹ triệu chứng, nâng chất lượng sống của bệnh nhân.
Nhật Minh
| Độc giả gửi câu hỏi về bệnh ung thư tại đây để bác sĩ giải đáp |