Chuỗi cung ứng đứt gãy cùng những bất cập trong quản lý, điều hành khiến Việt Nam đối mặt với đợt khan hiếm cục bộ kéo dài. Tôi còn nhớ cảnh hàng dài người xếp hàng đổ xăng trên nhiều thành phố lớn.
Đầu năm nay, nỗi lo về "cú sốc cung" lại hiện hữu khi eo biển Hormuz - cửa ngõ chiến lược đưa dầu từ Trung Đông ra thị trường thế giới - bị đặt vào vòng xoáy căng thẳng giữa Mỹ, Israel và Iran.
Việt Nam đã chủ động trao đổi với các đối tác để chuẩn bị nguồn dầu khoảng 4 triệu thùng, đủ phục vụ nhu cầu trong nước 30-45 ngày - một phản ứng nhanh và quyết liệt của Chính phủ. Nhưng đây cũng là lúc đặt ra câu hỏi xa hơn: hệ thống dự trữ của Việt Nam đã đủ mạnh để chống chịu các cú sốc về nguồn cung dầu và khí toàn cầu?
Hệ thống cung ứng và dự trữ xăng dầu của Việt Nam hiện được thiết kế theo ba tầng.
Tầng thứ nhất là dự trữ thương mại của các doanh nghiệp đầu mối. Các doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối xăng dầu phải duy trì lượng dự trữ tương đương 20 ngày nhập khẩu, thương nhân phân phối và bán lẻ phải duy trì tồn kho tối thiểu 5 ngày.
Tầng thứ hai là dự trữ sản xuất tại các nhà máy lọc dầu, chủ yếu từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Hai cơ sở này đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn lại vẫn phải nhập khẩu.
Tầng thứ ba là dự trữ xăng dầu quốc gia.
Dù thị trường từng trải qua nhiều giai đoạn căng thẳng, Việt Nam chưa phải xuất kho dự trữ quốc gia để can thiệp. Hệ thống cung ứng đang vận hành nhờ hai tầng dự trữ phía trước.
Tuy nhiên, hệ thống xăng dầu dự trữ quốc gia hiện chỉ tương đương 5-7 ngày tiêu dùng, tức khoảng 9 ngày nhập khẩu ròng. Không chỉ quy mô nhỏ, phần lớn lượng dự trữ này phải gửi trong các kho của doanh nghiệp. Việt Nam chưa có kho dự trữ quốc gia độc lập, dù theo quy định, hàng dự trữ quốc gia phải được cất giữ riêng theo địa điểm và tiêu chuẩn bảo quản, bảo đảm quản lý độc lập về số lượng và chất lượng.
Mô hình dự trữ kép - doanh nghiệp duy trì tồn kho thương mại song song với dự trữ quốc gia - giúp Nhà nước tiết kiệm đáng kể về ngân sách. Đây là lựa chọn của nhiều nước chưa đủ tiềm lực tài chính, có mức tiêu thụ thấp hoặc ít rủi ro gián đoạn nguồn cung.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có điểm yếu. Khi thị trường biến động mạnh, doanh nghiệp có thể giảm nhập khẩu để tránh rủi ro tài chính, khiến nguồn cung trong nước suy giảm.
Hơn nữa, khi dự trữ quốc gia và dự trữ thương mại nằm chung một bồn chứa, việc tách bạch nguồn lực trong tình huống khẩn cấp trở nên phức tạp về cả kỹ thuật lẫn pháp lý.
Mô hình mượn kho doanh nghiệp phù hợp hơn với những quốc gia có lượng tiêu thụ dầu mỏ thấp. Trong khi những năm qua, nhu cầu năng lượng của Việt Nam tăng rất nhanh. Việt Nam hiện tiêu thụ khoảng 700.000 thùng dầu mỗi ngày, với tổng nhu cầu xăng dầu 26-28 triệu m³ mỗi năm - mức tăng gấp đôi trong hơn một thập kỷ qua, phản ánh tốc độ tăng trưởng mạnh của nền kinh tế. Nhu cầu sẽ còn tăng nữa khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế tham vọng hơn.
Việt Nam vì thế cần cải cách trong dự trữ xăng dầu để đảm bảo tốt hơn an ninh năng lượng.
Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu. Nếu giá biến động thường xuyên với biên độ lớn, toàn bộ nền kinh tế sẽ chịu tác động mạnh. Vì vậy Chính phủ thường điều tiết để giá xăng dầu không tạo cú sốc thứ cấp với những ngành nghề khác.
Việc điều tiết thị trường xăng dầu ở Việt Nam thường xoay quanh thuế, phí hay quỹ bình ổn giá. Nhưng bài học từ những biến động lớn cho thấy các công cụ tài chính chỉ giải quyết phần "giá". An ninh năng lượng thực sự là câu chuyện của dự trữ vật chất - của dầu thật trong bồn chứa, chứ không phải các quy định trên giấy.
Khi bồn chứa không còn dầu, hoặc nguồn cung từ bên ngoài gián đoạn, có bao nhiêu tiền cũng khó đổ đầy bình xăng của người dân. Trong khi đó, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn lại phụ thuộc phần lớn vào nguồn dầu thô nhập khẩu từ Trung Đông. Nếu chuỗi cung ứng đứt gãy, khả năng gián đoạn sản xuất là khó tránh khỏi.
Thế giới ngày càng bất ổn. Chính phủ đã giải quyết và ứng phó các vấn đề trước mắt một cách hiệu quả và năng động. Nhưng trong tương lai, Việt Nam cần nhanh chóng cải thiện năng lực dự trữ bằng việc xây dựng kho chứa quốc gia độc lập, tách biệt khỏi hệ thống thương mại của doanh nghiệp.
Theo Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 đã phê duyệt năm 2023, Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng dự trữ quốc gia về xăng dầu có sức chứa 500.000 m3 đến một triệu m3 xăng dầu và 1-2 triệu tấn dầu thô. Mức dự trữ nâng lên 15-20 ngày nhập ròng giai đoạn 2021-2030, và 25-30 ngày sau năm 2030.
Để thực hiện mục tiêu này, Nhà nước cần nguồn vốn xây kho chứa, song song với bố trí ngân sách 4.100 tỷ đồng/năm để mua xăng dầu. Tổng hai nguồn tiền này là một gánh nặng với tài chính quốc gia.
Để giải bài toán kho chứa, Nhà nước đang thuê của doanh nghiệp với giá 14.893 đồng/m3 dự trữ, mức thấp hơn rất nhiều so với mong muốn trên 100.000 đồng/m3 mà phía doanh nghiệp đề xuất.
Ưu điểm của phương án mượn kho là tận dụng sức chứa còn trống trong doanh nghiệp, Nhà nước không phải trả phí đảo hàng, chi phí bảo quản thấp hơn so với làm kho chứa riêng.
Nhưng mức giá thấp không khuyến khích được doanh nghiệp đầu tư vốn xây dựng để cho nhà nước thuê. Nếu muốn huy động nguồn lực trong xã hội, cần có chính sách, cơ chế hợp lý, đặc biệt là điều chỉnh giá thuê kho để hài hòa lợi ích của doanh nghiệp.
Song song đó, Nhà nước có thể xây dựng và phát triển hệ thống kho dự trữ chiến lược độc lập thông qua chính sách đối tác công tư PPP. Doanh nghiệp được quyền huy động vốn, đầu tư xây kho theo tiêu chuẩn, bàn giao cho nhà nước quản lý sử dụng. Đổi lại họ đạt những lợi ích tương ứng.
Ngoài vấn đề kho chứa, Việt Nam cần tối ưu tỷ trọng nguồn cung xăng dầu từ các khu vực khác nhau để đảm bảo nguồn cung không gián đoạn. Hiện xăng dầu Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ Singapore hay Hàn Quốc - vốn cũng là các quốc gia nhập khẩu dầu thô từ Trung Đông.
Bên cạnh dự trữ xăng dầu thành phẩm, do chính sách bao tiêu sản phẩm của các nhà máy lọc dầu tại Việt Nam, Chính phủ cũng cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng kho chứa dự trữ dầu thô, theo chuẩn của Cơ quan Năng lượng Quốc tế là 90 ngày nhập khẩu ròng.
An ninh năng lượng là nền tảng của ổn định kinh tế và chủ quyền kinh tế quốc gia. Một nền kinh tế đang vươn lên trở thành trung tâm sản xuất mới của thế giới không thể mãi đặt sự an tâm của mình vào hy vọng rằng những con tàu dầu sẽ cập cảng đúng hạn.
Vũ Ngọc Bảo