Tôi có một người bạn làm giảng viên đại học. Nhà bạn ở gần huyện Bình Chánh cũ, trường đại học nơi bạn công tác có hai cơ sở, một ở trung tâm và một ở ngoại ô.
Mỗi lần gặp là bạn lại than vì quãng đường đi dạy quá xa. Nếu đi xe đưa rước của trường thì phải có mặt trước 6 giờ sáng để xe khởi hành. Có hôm dạy buổi sáng, nói chuyện hăng quá nên xe về trước, thế là phải tự bắt xe về. Cuối cùng bạn chuyển sang đi xe máy cho chủ động.
Hồi còn là sinh viên, tôi cũng từng học ở một trường có hai cơ sở. Phần lớn thời gian chúng tôi học ở ngoại ô. Nhưng mỗi khi có sự kiện quan trọng, mang tính đối ngoại hay có khách mời đặc biệt, cả lớp lại lóc cóc bắt xe buýt lên cơ sở ở trung tâm. Có những giảng viên thỉnh giảng ngại đi xa, sinh viên lại phải di chuyển vào trung tâm để học.
Những câu chuyện như vậy không hiếm. Nhiều trường đại học hiện nay tồn tại trong tình trạng phân tán: hai hoặc nhiều cơ sở nằm rải rác. Một phần ở trung tâm, một phần ở ngoại ô. Hiếm có trường nào có một khuôn viên rộng rãi, đầy đủ chức năng đúng nghĩa là một "campus".
Vì thế, câu chuyện di dời đại học ra ngoại ô thực ra đã được bàn đến từ nhiều năm nay. Lý do thì khá rõ, trung tâm thành phố chật chội, đất đai đắt đỏ, giao thông quá tải. Trong khi đó, một trường đại học đúng nghĩa cần không gian rộng cho giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, ký túc xá, khu thể thao, không gian nghiên cứu và sinh hoạt sinh viên.
Ngoại ô, nếu được quy hoạch tốt, có thể đáp ứng điều đó.
Nhưng mỗi khi nhắc đến chuyện di dời đại học, người ta thường chỉ bàn đến phần "di dời". Ít khi bàn kỹ phần còn lại: Đất vàng ở trung tâm sau khi trường chuyển đi thì sẽ được dùng vào việc gì. Đây mới là câu hỏi quan trọng.
Bởi nếu lý do của việc di dời là để giảm áp lực giao thông, giảm mật độ dân cư và trả lại không gian cho thành phố, thì việc xây dựng trên khu đất đó phải phục vụ mục tiêu tương tự. Nếu không, mọi lập luận ban đầu sẽ trở nên khó thuyết phục.
Thử hình dung một kịch bản quen thuộc: Trường đại học rời đi, vài năm sau khu đất ấy mọc lên một tổ hợp chung cư cao tầng, trung tâm thương mại hoặc văn phòng cho thuê. Lượng người đổ về khu vực đó không giảm mà có thể còn tăng lên.
Lúc đó, câu hỏi sẽ xuất hiện rất tự nhiên: Vậy việc di dời ban đầu nhằm mục đích gì?
Nếu trước đây người ta từng nói sinh viên tập trung ở trung tâm gây kẹt xe, gây áp lực hạ tầng, thì vài tòa nhà cao tầng với hàng nghìn cư dân và nhân viên văn phòng sẽ tạo ra áp lực như thế nào?
Rõ ràng, không thể chỉ nhìn bài toán di dời đại học như một câu chuyện sắp xếp lại trường lớp. Nó còn là bài toán quy hoạch đô thị và sử dụng tài sản công.
Một khu đất đại học trong trung tâm thành phố thường có giá trị rất lớn, không chỉ vì vị trí.
Nhiều nơi đã gắn với lịch sử giáo dục hàng chục năm. Đó từng là nơi sinh viên học tập, nghiên cứu, tranh luận, tổ chức hoạt động học thuật.
Nếu trường chuyển đi, có nhiều cách để sử dụng lại không gian đó mà vẫn giữ được giá trị cho cộng đồng.
Chẳng hạn, có thể chuyển đổi thành thư viện công cộng lớn, bảo tàng khoa học, trung tâm nghiên cứu, công viên mở hoặc không gian sáng tạo cho giới trẻ. Những công trình như vậy không tạo ra mật độ dân cư dày đặc nhưng vẫn đóng góp cho đời sống văn hóa - tri thức của thành phố.
Ở góc độ khác, việc di dời đại học ra ngoại ô cũng cần được nhìn nhận nghiêm túc hơn. Một trường đại học không chỉ là nơi giảng dạy. Nó còn là một hệ sinh thái gồm sinh viên, giảng viên, quán xá, nhà trọ, hoạt động học thuật, văn hóa.
Sinh viên dồn ra ngoại ô thì cơ hội tiếp cận môi trường năng động của thành phố sẽ ra sao? Những cơ hội thực tập, làm thêm, giao lưu học thuật thường lại nằm ở khu vực trung tâm. Nếu khoảng cách quá xa, chi phí di chuyển và thời gian sẽ trở thành một rào cản.
Vì vậy, di dời đại học không phải là một quyết định đơn giản. Nó cần đi kèm với quy hoạch giao thông tốt, hệ thống ký túc xá, dịch vụ, và cả môi trường sáng tạo xung quanh "campus" mới.
Nhưng song song với đó, cách sử dụng khu đất cũ ở trung tâm cũng phải được đặt lên bàn ngay từ đầu, chứ không phải để đến khi trường dọn đi rồi mới tính.
Vĩnh Phan