Trong mâm cỗ Tết truyền thống, bánh chưng tượng trưng cho sự no đủ với gạo nếp, thịt mỡ và đậu xanh. Tuy nhiên, đặc tính của món bánh này là giàu đạm, nhiều tinh bột và độ béo ngậy cao, nếu ăn nhiều dễ gây ngán hoặc đầy bụng. Để cân bằng, bên cạnh đĩa dưa hành chua dịu, người Hà Nội cũ thường chuẩn bị một niêu cá kho thật kỹ.
Sự kết hợp này thoạt nghe có vẻ không liên quan nhưng lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa về ẩm thực và nếp sống.
Mâm cỗ Tết truyền thống Hà Nội. Ảnh minh họa: Bùi Thủy
Cân bằng vị giác và chống ngấy
Về mặt vị giác, cá kho đóng vai trò "kéo vị". Miếng bánh chưng dẻo rền, béo bùi khi kết hợp với thớ cá kho khô, mặn đậm đà, thơm mùi riềng sả tạo nên sự đối lập thú vị. Vị mặn và cay ấm của cá giúp trung hòa độ ngậy của mỡ lợn và nếp, kích thích vị giác, khiến người ăn cảm thấy ngon miệng hơn trong những ngày Tết vốn ê hề thịt thà.
Triết lý âm dương trong ăn uống
Dưới góc độ thực dưỡng, sự kết hợp này tuân thủ nguyên tắc cân bằng âm dương. Bánh chưng làm từ gạo nếp, đỗ xanh mang tính âm, tính hàn, dễ gây nê trệ tiêu hóa. Ngược lại, cá kho theo lối Bắc Bộ thường kho khô, lửa nhỏ trong nhiều giờ (kho 2-3 lửa), kết hợp với các gia vị tính nhiệt mạnh như riềng già, gừng, tiêu, ớt... mang tính dương.
Khi ăn kèm, tính dương của món cá hỗ trợ tiêu hóa cho món bánh mang tính âm, giúp cơ thể quân bình, tránh được cảm giác nặng bụng, khó tiêu ngày Tết.
Cá kho ăn kèm bánh chưng. Ảnh: Bùi Thủy
Nếp sống chắt chiu
Món ăn này còn phản ánh nếp sống vén khéo của người Hà Nội thời trước. Tết xưa thường kéo dài, việc chợ búa hạn chế. Một nồi cá kho mặn, nêm nếm kỹ có thể bảo quản được lâu trong điều kiện tự nhiên, càng đun lại càng săn chắc, thấm vị. Bánh chưng cũng là món để được dài ngày.
Trong những ngày "ra Giêng", khi gà luộc, giò chả đã ngán, cắt lát bánh chưng (có thể rán hoặc để nguyên) ăn với chút cá kho là bữa cơm gọn nhẹ, tiết kiệm nhưng vẫn đủ đầy hương vị. Đó không chỉ là món ăn, mà còn là ký ức về sự sum vầy, chắt chiu của nhiều thế hệ gia đình bên bếp lửa mùa xuân.
Bùi Thủy