Theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp cho hàng xóm vay tiền không có lãi thì chị không được quyền yêu cầu họ trả lãi. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ mà họ không trả tiền thì chị có quyền yêu cầu họ trả tiền gốc và tiền lãi đối với thời gian chậm trả. Lãi suất là 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lưu ý: Nếu họ không chịu trả tiền gốc và lãi theo đúng quy định, chị có quyền khởi kiện ra tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình.
Luật sư Phạm Thanh Hữu
Đoàn luật sư TP HCM