Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp vừa ký Quyết định công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026. Kịch bản được tính toán, đánh giá cho giai đoạn từ tháng 11/2025 đến tháng 6/2026.
Nguồn nước sông Hồng - Thái Bình được dự báo cơ bản đáp ứng mùa cạn 2025-2026. Ảnh: Ngọc Thành
Nguồn nước cơ bản ổn định
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trên cơ sở hiện trạng và dự báo khí tượng thủy văn, xu thế diễn biến nguồn nước tại 7 hồ chứa lớn, 30 hồ và cụm hồ chứa có dung tích từ 5 triệu m3 trở lên, cùng các tiểu lưu vực sông và tầng chứa nước dưới đất, nguồn nước toàn lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn 2025-2026 được đánh giá ở mức bình thường.
Nguồn nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, phát điện, công nghiệp và các yêu cầu về an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng, đồng thời hạn chế rủi ro thiếu nước do khai thác, sử dụng kém hiệu quả.
Đối với 7 hồ chứa lớn, tổng dung tích dự kiến đạt khoảng 27,6 tỷ m3 vào ngày 1/1/2026, trước thời kỳ đổ ải; giảm còn khoảng 24 tỷ m3 sau đổ ải (ngày 1/3); và dao động 22,1–22,6 tỷ m3 vào ngày 1/4, thời điểm bắt đầu nắng nóng cao điểm. Lượng nước này cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, giao thông thủy, môi trường và phát điện.
Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường lưu ý, trong trường hợp nhu cầu phát điện tăng cao vào các tháng 4-6/2026 hoặc xảy ra thiếu hụt từ các nguồn điện khác, một số hồ chứa có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu nước cho hạ du.
Trên các tiểu lưu vực sông Đà, Lô - Gâm, Thao, Cầu - Thương và khu vực Đồng bằng sông Hồng, nguồn nước nhìn chung ở trạng thái bình thường. Một số khu vực cục bộ có nguy cơ thiếu nước do lượng mưa dự báo thiếu hụt trong các tháng 1, 2 và 5/2026, cùng với việc hệ thống hồ nhỏ, công trình thủy lợi chưa đồng bộ, ảnh hưởng chủ yếu đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Nguồn nước dưới đất trong giai đoạn từ tháng 11/2025 đến tháng 6/2026 được dự báo cơ bản ổn định, bảo đảm cấp nước cho các công trình khai thác tại Đồng bằng sông Hồng.
Tại Hà Nội, mực nước trung bình các giếng dao động từ 12,8 đến 34,5 m, đáp ứng tổng lưu lượng khai thác khoảng 140.500 m3 một ngày đêm, song một số công trình đã tiệm cận ngưỡng mực nước động cho phép. Tại Hưng Yên, mực nước dự báo từ 3,9 đến 16,8 m, bảo đảm khai thác 63.490 m3 một ngày đêm; tại Bắc Ninh, mực nước dao động 2,1–32,8 m, đáp ứng lưu lượng khoảng 47.650 m3 một ngày đêm, với một số giếng gần giới hạn khai thác.
Kế hoạch sử dụng nước
Theo kịch bản, nguy cơ thiếu nước cục bộ có thể xảy ra tại một số tiểu lưu vực, hồ nhỏ và khu vực khai thác tập trung, đặc biệt trong các tháng nắng nóng cao điểm hoặc khi phát sinh sự cố về điện, ô nhiễm nguồn nước. Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo cần vận hành hồ chứa linh hoạt, khai thác hợp lý nước dưới đất, sử dụng nước tiết kiệm và giám sát chặt các khu vực trọng điểm.
Bộ đề nghị các bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước phù hợp với kịch bản, dự phòng cho các tháng cuối mùa cạn. Bộ Công Thương cần điều hành linh hoạt các hồ thủy điện lớn, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện để bảo đảm cân đối nguồn nước cho các mục tiêu đa mục tiêu.
Lượng nước đổ ải năm 2026 được khuyến nghị từ 3,2 đến 3,7 tỷ m3; sản lượng thủy điện duy trì theo kế hoạch hoặc tăng nhưng không vượt mức trung bình giai đoạn 2015-2025, nhằm bảo đảm đồng thời cho sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực và an ninh năng lượng.
Các địa phương cần phối hợp tối ưu hóa khai thác nước từ hồ chứa, kênh mương, trạm bơm; nạo vét, cải tạo và vận hành hiệu quả công trình thủy lợi. Riêng vùng Đồng bằng sông Hồng cần tăng khả năng lấy nước, kiểm soát xâm nhập mặn, tận dụng triều cường để tích trữ nước, đồng thời vận hành các hồ thủy điện hỗ trợ gieo cấy vụ Đông Xuân theo quy định.
Cục Quản lý tài nguyên nước và Cục Quản lý, Xây dựng công trình thủy lợi có trách nhiệm theo dõi, cập nhật kịch bản nguồn nước, điều hòa và phân phối tài nguyên nước, hướng dẫn địa phương sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Các đơn vị chuyên môn về trồng trọt, chăn nuôi và khí tượng thủy văn sẽ điều chỉnh cơ cấu sản xuất, theo dõi và cảnh báo sớm nguy cơ hạn hán, thiếu nước.
Đối với các khu vực có nguy cơ thiếu nước cục bộ như Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hưng Yên, UBND các tỉnh cần chủ động theo dõi diễn biến nguồn nước, điều chỉnh sản xuất, chuyển đổi cây trồng, sử dụng nguồn nước dự phòng và tăng cường tích trữ nước mưa.
Bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho vùng Đồng bằng sông Hồng được xác định là ưu tiên hàng đầu. Bộ Xây dựng và các địa phương được yêu cầu rà soát, nâng cao hiệu quả vận hành nhà máy nước sạch, kiểm soát xả thải vào nguồn nước thô, đồng thời giám sát chặt việc khai thác nước dưới đất, kết hợp hài hòa giữa nước mặt, nước dưới đất và tích trữ nước mưa nhằm bảo đảm nguồn nước ổn định, an toàn cho người dân.
Thế Đan