Tiến sĩ Phú Văn Hẳn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, cho biết lịch Sakawi của người Chăm Bàni và âm lịch Việt Nam chỉ gặp nhau cùng thời điểm cách đây 33 năm, vào năm 1993.
"Sự trùng hợp này bắt nguồn từ quy luật vận hành của Hồi lịch - hệ lịch du nhập vào cộng đồng Chăm cùng với đạo Islam từ khoảng thế kỷ 10", ông Hẳn nói.
Đối với người Chăm Bàni (cách tự gọi của cộng đồng theo Islam đã địa phương hóa ở Ninh Thuận - Bình Thuận cũ), quá trình tiếp nhận Hồi giáo diễn ra từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15. Trong khi đó, cộng đồng Chăm Islam tiếp nhận đạo Hồi muộn hơn, từ thế kỷ 15 đến 18, khi tổ tiên họ di cư qua các vùng đất nay thuộc Malaysia, Indonesia và Thái Lan.
Người chăm tảo mộ tổ tiên trong lễ Ramưwan. Ảnh: Long Hồ
Theo quy định của Hồi lịch, mỗi năm có 12 tháng, mỗi tháng trung bình 29,5 ngày, tổng cộng khoảng 354 ngày - ngắn hơn năm dương lịch. Nếu không điều chỉnh, sau mỗi năm lịch sẽ lệch khoảng 0,367 ngày so với chu kỳ mặt trăng; sau 33 năm, độ lệch có thể lên tới hơn 12 ngày.
Theo Tiến sĩ Hẳn độ sai khác rất lớn giữa Hồi lịch với mặt trăng là một thực tế đã được phản ánh vào một câu phương ngôn lưu truyền trong giới lịch pháp người Chăm: "Pami Chăm apui khuah; pami Bani sup lin tapin" (ý nói vào đêm rằm lịch Sakavi Chăm thì trời sáng tỏ vì tương đối khớp với ngày rằm của mặt trăng, còn đêm rằm của Bani của Hồi lịch trời tối mịt mù vì chưa thấy trăng tròn).
Để điều chỉnh, trong chu kỳ 33 năm, các nhà lịch pháp Hồi giáo bổ sung 12 ngày nhuận nhằm đưa tổng số ngày trung bình mỗi năm tiệm cận với chu kỳ 12 vòng quay của mặt trăng. Tuy vậy, Hồi lịch không điều chỉnh để năm dài bằng năm dương lịch, nên các tháng Hồi giáo luôn dịch chuyển so với mùa trong năm. Mốc khởi đầu của Hồi lịch được tính từ năm 622, thời điểm Nhà tiên tri Muhammad cùng tín đồ rời Mecca đến Medina.
Khác với âm dương lịch vốn sử dụng cả tháng nhuận và ngày nhuận để cân bằng chu kỳ mặt trăng và mặt trời. Hồi lịch về cơ bản là âm lịch thuần túy, chỉ điều chỉnh theo mặt trăng.
Với người Chăm Bàni, Ramưwan không chỉ là tháng chay niệm mà còn là dịp tưởng nhớ tổ tiên, mang không khí như Tết. Lễ hội gồm ba phần chính: tảo mộ, cúng gia tiên và chay niệm.
Lễ cúng trước mộ của một gia tộc ở nghĩa trang người Chăm hồi tháng 2/2025. Ảnh: Phước An
Sau lễ tảo mộ, các gia đình trở về nhà làm lễ cúng tổ tiên, cùng cầu nguyện, khấn xin ông bà phù hộ cho con cháu mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi. Hoàn tất nghi lễ, họ mời bà con, bạn bè đến chung vui, ăn uống, trò chuyện trong không khí rộn ràng, vì thế còn được gọi là Tết Ramưwan.
Ba ngày đầu mang sắc thái sum họp, sau đó các làng Chăm Bàni bước vào tháng lễ trang nghiêm. Người dân giữ tâm thanh tịnh, hạn chế sát sinh, không tổ chức ca hát nhảy múa. Nam, nữ mặc trang phục trắng truyền thống, hằng ngày đến thánh đường dự lễ.
Lễ vật của người chăm dùng để tảo mộ tổ tiên trong lễ Ramưwan. Ảnh: Long Hồ
Trong suốt tháng Ramưwan, các chức sắc tập trung tại thánh đường, không trở về sinh hoạt cùng gia đình như thường lệ. Ban ngày họ nhịn ăn, chỉ dùng bữa vào ban đêm và thực hiện năm lần cầu nguyện mỗi ngày, đọc kinh Koran và cầu thánh Allah. Lễ kéo dài trọn một tháng trước khi khép lại.
Bên cạnh phần lễ, phần hội cũng diễn ra sôi nổi với các hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao giữa thanh niên các làng. Các vị chức sắc tôn giáo như Cả Sư, Char, Mum, Tiếp tập hợp tín đồ để tuyên truyền tinh thần hòa hợp, vận động đoàn kết.
Tỉnh Khánh Hoà (Ninh Thuận cũ) có đông người Chăm sinh sống nhất trong cả nước với hơn 74.000 người. Người Chăm sống tập trung tại 22 làng (palei) trên địa hơn 10 xã, phường trong tỉnh. Họ theo hai tôn giáo chính là: Bà La Môn và Hồi giáo Bàni. Một số ít theo Hồi giáo Islam. Trong đó, người Chăm theo đạo Bàni có hơn 27.000 người.
Tuấn Anh