Căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Như vậy, sau khi ly hôn thì chị và chồng cũ của chị (cha của con gái chị) phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con gái.
Theo tôi, trước tiên chị cần trao đổi với chồng cũ, trình bày rõ sự việc để hai bên hiểu nhau, nhằm bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho con. Trong trường hợp chị có chồng mới mà không thể nuôi con như hiện tại, và đã trao đổi với chồng cũ nhưng anh ấy lại từ chối nuôi con thì chị có thể đề nghị tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Theo Điều 49 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
- Không phải là người bị tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Theo điểm b khoản 1 Điều 47 và Điều 52 Bộ luật Dân sự năm 2015, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên trong trường hợp cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con được xác định theo thứ tự sau đây:
(1) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.
(2) Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản (1) nêu trên thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.
(3) Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản (1) và khoản (2) nêu trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
Luật sư Phạm Thanh Hữu
Đoàn luật sư TP HCM