Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo lần đầu tiên cho phép miễn thi và tính điểm 10 môn Ngoại ngữ trong xét tốt nghiệp cho thí sinh có chứng chỉ IELTS từ 3.5 và tương đương. Một năm sau, mức IELTS tối thiểu được nâng lên thành 4.0. Cũng từ đây, cụm từ "điểm IELTS" lần đầu xuất hiện trong đề án tuyển sinh một trường đại học.
Cụ thể, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM (nay là Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM) ưu tiên xét tuyển thí sinh có IELTS từ 6.0 vào ngành Sư phạm tiếng Anh và Ngôn ngữ Anh và 5.0 trở lên vào chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh.
Năm sau đó, Đại học Kinh tế Quốc dân đưa IELTS vào xét tuyển kết hợp với mức sàn là 6.5. Từ đó trở đi, ngày càng nhiều trường dùng chứng chỉ IELTS để tuyển sinh, gồm cả khối ngoại ngữ, kinh tế, kỹ thuật, rồi đến nhóm trường công an, quân đội.
Tổng cộng, gần 100 trường dùng điểm IELTS trong tuyển sinh. Trong đó, hơn 70 trường quy đổi thành điểm môn Tiếng Anh, xét kết hợp với điểm thi THPT hoặc học bạ với mức từ 4.0 trở lên. Các trường khối y dược chỉ cộng 1-3 điểm khuyến khích.
Việc chuộng xét tuyển bằng IELTS khiến thí sinh đổ xô đi học để thêm "tấm vé" vào đại học. Cách đây 10 năm, hai đơn vị tổ chức thi IELTS tại Việt Nam là Hội đồng Anh và IDP tổ chức 3-4 kỳ thi mỗi tháng ở các thành phố lớn. Hiện, lịch thi có hàng ngày, không chỉ ở Hà Nội, TP HCM mà lan ra các tỉnh, như ở Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Gia Lai... Chi phí một lần thi là hơn 4,6 triệu đồng.
Năm ngoái, số thí sinh dùng chứng chỉ ngoại ngữ, phổ biến là IELTS, để quy đổi thành điểm môn tiếng Anh hoặc được cộng điểm ưu tiên tăng 1,5-4 lần ở nhiều đại học. Học viện Ngân hàng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Kinh tế Quốc dân ghi nhận 13.000-22.000 thí sinh có chứng chỉ.
Thí sinh TP HCM thi tốt nghiệp THPT 2025. Ảnh: Quỳnh Trần
Đại diện nhiều trường khẳng định xét tuyển thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế là xu hướng tích cực, cho thấy hiệu quả trong tuyển sinh và đào tạo.
Cô Bùi Thị Thanh Trúc, Trưởng khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP HCM, nhìn nhận để đạt được chứng chỉ theo chuẩn quốc tế, người học phải đầu tư thời gian, công sức, tiền bạc. Ở mức độ nhất định, kết quả là minh chứng về năng lực ngôn ngữ, tư duy, kiên trì và sự chú tâm học tập.
PGS.TS Lê Hữu Lập, chuyên gia giáo dục đại học, nói về mặt tích cực, cách xét tuyển này thúc đẩy phong trào học ngoại ngữ ở phổ thông. Sinh viên đầu vào có nền tảng ngoại ngữ tốt dễ dàng tiếp cận nguồn tài liệu quốc tế, tham gia chương trình trao đổi, học tập và nghiên cứu sâu trong lĩnh vực chuyên môn.
"Đây cũng là công cụ giúp các trường đánh giá năng lực thí sinh toàn diện hơn", ông Lập nói.
Tuy nhiên, xét tuyển bằng IELTS dần lộ ra nhiều bất cập.
Ông Lập chỉ ra thực trạng các trường đại học hiện có những cách quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ và thang điểm cộng khác nhau, gây ra sự thiếu minh bạch và công bằng.
Ví dụ, cùng có IELTS 4.0, thí sinh xét vào Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Nha Trang được tính 6 điểm, Đại học Thủ đô Hà Nội tính thành 7,5, còn Đại học Sài Gòn tính là 8. Học viện Ngoại giao chỉ tính 8 điểm Tiếng Anh với IELTS 6.5 nhưng hầu hết trường khác tính là 10.
Chưa kể, một số trường tính hai lần điểm cho thí sinh có IELTS: vừa quy đổi, vừa cộng điểm khuyến khích. Như tại Đại học Thương mại, thí sinh 5.0 IELTS được quy đổi ra điểm 10, cộng thêm 0,5 điểm thưởng. Từ 7.0, các em được quy đổi 10 điểm và có 3 điểm thưởng. Còn ở Đại học Kinh tế Quốc dân cộng 0,75 điểm vào tổng điểm, sau khi quy đổi.
Điều này gây tranh cãi về tính công bằng, đặc biệt vào năm ngoái, khi đề thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh được đánh giá là khó. Cả nước chỉ có 144 thí sinh đạt 10, trong khi hàng chục nghìn em có IELTS 6.0-6.5 trở lên được quy đổi ra mức tương đương khi xét tuyển.
Đại diện phụ trách tuyển sinh một đại học thừa nhận trường rơi vào thế "việt vị", không nghĩ đề thi khó đến vậy, nên bảng quy đổi điểm gây mất công bằng. Song, các trường không thể năm nào cũng chờ đợi đề thi xem khó - dễ ra sao để thay đổi phương án.
Bảng quy đổi điểm IELTS của hơn 70 đại học năm 2025
Việc ưu tiên lớn cho chứng chỉ ngoại ngữ, theo ông Lê Hữu Lập, còn có thể làm giảm tỷ trọng của các môn học văn hóa cốt lõi như Toán, Văn, Lý, Hóa, ảnh hưởng đến sự cân bằng trong đánh giá năng lực thí sinh.
Cô Bùi Thị Thanh Trúc và TS Lê Xuân Quỳnh, Quản lý chương trình cử nhân ngôn ngữ của Đại học RMIT Việt Nam, cùng quan điểm. Ông Quỳnh ví dụ một ngành xét tuyển khối A00 (Toán, Lý, Hóa) đòi hỏi thí sinh chứng minh năng lực học tập các môn Khoa học tự nhiên nhưng lại cộng điểm xét tuyển cho em có chứng chỉ tiếng Anh là không công bằng. Chưa kể khoảng cách giữa thí sinh thành thị và nông thôn, giữa tài chính gia đình với việc học và thi các chứng chỉ.
Vì vậy, các chuyên gia đều cho rằng phải có quy định chung nhằm điều chỉnh việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đại học.
Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết dự kiến giới hạn điểm cộng với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ, tối đa 1-2 điểm, tránh nghịch lý điểm chuẩn vượt xa điểm thi. Ông Lê Hữu Lập cho rằng đây là hướng hợp lý.
"Điều quan trọng là cần có những nguyên tắc quy đổi chung và minh bạch, cũng như cân bằng giữa năng lực ngoại ngữ và kiến thức chuyên môn cốt lõi để đảm bảo công bằng", ông Lập nói.
Cô Bùi Thị Thanh Trúc đề xuất chỉ nên cộng điểm khuyến khích với thí sinh có chứng chỉ ở một giới hạn nhất định hoặc miễn một số học phần ngoại ngữ khi đã đỗ vào trường, thay vì quy đổi sang điểm Tiếng Anh.
Còn TS Lê Xuân Quỳnh thấy cần có một chứng chỉ tiếng Anh của Việt Nam với độ tin cậy cao, dễ tiếp cận, chi phí thấp để cả thí sinh và các trường đại học có cơ hội sử dụng như "vé ưu tiên" trong tuyển sinh.
Dương Tâm - Lệ Nguyễn