Mẹ mất, bố đột quỵ, Tuấn Lê bước lên sân khấu từ 6 tuổi để kiếm tiền nuôi cả gia đình. Khi đam mê với xiếc bén rễ, anh vấp phải sự ngăn cản vì "nghề không có tương lai". Anh bỏ nhà, mang theo nỗi day dứt lớn nhất đời cùng quyết tâm: phải tồn tại được với lựa chọn của mình.

16 năm, từ vô danh anh đặt chân vào đoàn xiếc lừng danh nhất thế giới. Khi ở đỉnh cao với mức lương 10.000 USD mỗi tháng, anh thực hiện "cú liều" thứ hai – bỏ hào quang quốc tế để trở về với tham vọng ghi danh xiếc Việt lên bản đồ thế giới.

Trong cuộc trò chuyện này, The First Step gặp gỡ Tuấn Lê – nghệ sĩ xiếc, đạo diễn của những vở diễn từng lưu diễn tại 13 quốc gia và hơn 60 nhà hát tiêu chuẩn châu Âu – lắng nghe hai lần "tất tay" không đường lùi và triết lý sống như nước: có thể chuyển hóa, có thể bốc hơi, nhưng những giá trị đã tạo ra thì còn ở lại.

Play

- Nếu dùng một nét vẽ để phác họa lại sự nghiệp của mình, anh sẽ vẽ thế nào?

- Tôi hình dung đó là khối tròn, chữ O. Nhưng điểm cuối không khép kín, mà phớt ra như một vệt gió, ngụ ý hành trình vẫn còn tiếp tục.

Vòng tròn cũng có thể hiểu là trái bóng - vật dụng gắn với những ngày đầu sự nghiệp của tôi. Cuộc đời tôi cũng giống trái bóng, lăn lộn từ nơi này sang nơi khác. Mỗi cú lăn là một lần tích lũy - kiến thức, kinh nghiệm. Lăn khắp thế giới, kết dính thêm giá trị và ngày càng lớn lên.

Phía trên là dấu mũ, như một cái nón. Vật đã giúp tôi ghi danh vào làng xiếc thế giới - màn tung hứng nón đỏ. Nó còn là biểu tượng của những người thầy, những thần tượng đã che chở, tiếp sức cho tôi suốt hành trình.

- Cơ duyên nào đưa anh đến với nghề xiếc?

- Tôi sinh ra trong gia đình truyền thống làm nghệ thuật. Ông nội chỉ huy nhạc giao hưởng. Bà là nghệ sĩ múa solis ở Thượng Hải. Ba là nghệ sĩ trumpet nổi tiếng tại Sài Gòn. Má là biên kịch, diễn viên kịch nói.

Tôi sinh ra khoảng mười mấy tháng thì má mất vì bệnh tim. Đến khoảng 5-6 tuổi thì ba bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người khi là trụ cột kinh tế của gia đình.

Lúc đó, anh trai tôi - tốt nghiệp ngành xiếc ở Moscow, nảy ra ý tưởng dạy xiếc cho tôi để đi biểu diễn, phụ kinh tế cho gia đình. Anh cũng là người thầy đầu tiên, tập cho tôi những kỹ năng cơ bản về xiếc. Mỗi ngày tập với anh hai ba tiếng, chưa đến sáu tháng, tôi đã biết tung hứng và có thể đi biểu diễn.

Sau đó vài tháng, anh trai bị tai nạn trong một tiết mục và bể đầu gối. Tôi phải đi diễn chính, gần như nuôi cả nhà.

Nhưng lúc đó tôi hồn nhiên lắm. Không suy nghĩ, lo lắng gì. Với đứa trẻ 6-7 tuổi, chuyện ba bệnh hay anh trai bị gãy đầu gối chỉ là chuyện xảy ra, không phải áp lực.

Có thể do năng khiếu, ngay khi đi diễn thì tôi trở thành hiện tượng - thần đồng tung hứng nhí ở Sài Gòn. Anh trai tôi lúc đó thành "bầu show" cho tôi. Tôi chạy show khắp các tụ điểm lớn tại Sài Gòn: Trống Đồng, Rex, Nhà hát lớn… Tết là đợt diễn nhiều nhất, 10-20 suất một ngày, từ sáng tới tối. Có mùa Tết, tôi dành dụm và mua được một sợi dây chuyền vàng từ tiền diễn. Đến bây giờ tôi vẫn giữ sợi dây chuyền đó.

Đến 1990, tôi khoảng 12-13 tuổi, gia đình quyết định di cư sang Nga. Lúc đó muốn cho ba sang Nga chữa bệnh vì y tế Việt Nam còn hạn chế. Tôi cũng sang trường xiếc Moscow học chuyên nghiệp. Nhưng đến Nga thì đúng thời điểm tình hình chính trị bất ổn, xảy ra đảo chính. Các anh của tôi quyết định sang Đức để định cư.

Qua đó, chúng tôi được hỗ trợ nhà ở. Anh trai thì vừa đi học vừa đi buôn, mang bàn ủi, đồ điện về Việt Nam bán kiếm lời. Tình cảnh rất khó khăn nên lúc đó tôi phải tập trung hai việc: chữa bệnh cho ba và tôi phải học văn hoá, tiếng Đức để hoà nhập. Chuyện học xiếc của tôi coi như chấm dứt.

- Sự nghiệp thần đồng xiếc nhí khép lại. Những năm sau đó, không còn chạm vào bóng, anh cảm thấy thế nào?

- Tôi bỏ khoảng hai, ba năm không đụng gì tới tung hứng. Nhưng lúc đó, phải làm quen với bộn bề cuộc sống mới, tôi chưa nhận ra xiếc là đam mê. Tình cờ một lần, tôi xem chương trình festival xiếc thi đấu ở Paris, trong đó có tiết mục tung hứng 7 trái bóng. Những cảm xúc đã nằm trong "xó" từ lâu tự nhiên được "hâm nóng". Tôi lục lại bóng tung thử, nhưng không làm được vì hồi ở Việt Nam tôi cũng chỉ tung được 5 và đã bỏ bê mấy năm. Lúc đó, mình lại càng quyết tâm phải làm được. Tôi mua bóng về tập lại dần từ đó.

Đến khoảng 18 tuổi, tôi chia sẻ với gia đình về mong muốn tiếp tục làm nghệ thuật, làm xiếc. Mọi người khuyên nhủ tôi suy nghĩ lại vì quá viển vông. Một gia đình nhập cư thì làm gì có vị thế, mối quan hệ để hỗ trợ tôi bước vào nghệ thuật chuyên nghiệp. Họ không tin có phép màu nào giúp tôi sống được bằng nghề đó ở châu Âu. Muốn tồn tại phải có tài năng xuất chúng hoặc điểm gì đó rất đặc biệt, mà gia đình lại không nhìn thấy điều đó ở tôi.

Nhưng thời điểm đó, tôi đã xác định: đây là điều mình muốn làm và phải làm được.

Tôi âm thầm đi đăng ký tuyển sinh tại một trường chuyên ngành múa và xiếc ở Berlin. Không muốn bị phát hiện, mỗi sáng tôi đều đứng ngay trước hộp thư để chờ người đưa thư tới. Khoảng tuần sau, tôi nhận thư trúng tuyển.

- Anh đã thuyết phục gia đình thế nào để được quay lại với nghề?

- ​Chia sẻ với gia đình, tôi vẫn không có sự đồng thuận.

Trong đầu tôi lúc đó đã rất chắc chắn với quyết định đi học. Cơ hội đã đến. Tôi nghĩ đến hai trường hợp, hoặc thỏa hiệp để được đồng thuận, nếu không được thì con đường duy nhất là phải bỏ nhà ra đi. Không có lựa chọn từ bỏ.

Tôi và ba ở chung một phòng. Nhưng lúc đó không thể đối mặt để nói rằng: gia đình không đồng ý, con phải bỏ nhà đi và để ba lại một mình. Sau hai ngày suy nghĩ, tôi lấy một túi rác, nhét tất cả những gì trước mặt có thể mang theo. Không lời tạm biệt. Tôi chỉ âm thầm đi.

Tôi là người chăm sóc ba nhiều nhất từ khi ông bệnh. Tôi đi, ông ở lại với với gia đình anh trai cả. Đó có lẽ là đánh đổi lớn nhất, khoảnh khắc đau khổ nhất đời tôi.

Lúc đó tôi đã xác định xiếc là đam mê. Mà đã đam mê thì phải đầu tư, phải quyết liệt. Tôi tin chỉ khi ra khỏi nhà, mình mới làm được điều mình dự định. Nếu ở lại, sẽ có nhiều cản trở.

- Khoảnh khắc xách túi rời nhà vào trường xiếc, anh nghĩ tới điều gì nhiều nhất?

- Bước lên xe buýt, tôi không dám nghĩ tới thành công, nhưng tự nhủ mình không được phép thất bại. Khi đã chọn, tôi xác định phải dốc toàn bộ sức lực và năng lượng, phải tồn tại được trên thế giới này bằng con đường mình chọn.

May mắn, lúc đó, có những người cho tôi niềm tin.

Ngày đầu tiên bước vào trường, thầy chủ nhiệm bắt tay tôi hỏi: “Sao em không đi diễn luôn, vào đây làm gì?”.

Trong lúc học, tôi cũng tìm cơ hội diễn khắp nơi. Tôi tới một trung tâm văn hóa UFa Fabrik tại Berlin, gặp ông chủ là Juppy – mentor của tôi sau này. Tôi giới thiệu bản thân, khoe mình biết tung hứng. Ông chỉ hỏi xã giao rồi bảo ghé lại sau. Nhưng tôi khăng khăng thuyết phục, đòi diễn cho ông xem. Lúc đó, có gì tôi lấy ra tung hết. Trước khi về, ông vỗ vai nói: "Nếu thật sự nghiêm túc, mày có thể kiếm được rất nhiều tiền từ kỹ năng đó".

Suốt 3-4 năm đó, tôi không liên lạc với gia đình. Lần đầu tiên nhận được hợp đồng diễn chuyên nghiệp tại một nhà hát ở Đức, tôi mới gọi điện cho anh trai, mời xuống Stuttgart xem. Đó là lần đầu tiên tôi cho phép mình có tâm thế gặp lại người thân. Vì lúc đó, tôi làm được điều tôi nói, điều mà trước không ai tin.

Vài tháng sau, tôi về nhà thăm ba. Vốn bản tính hiền lành, điềm đạm, kiệm lời, ông không trách móc, cũng không hỏi han điều gì về chuyện cũ. Tôi chủ động kể về cuộc sống mới, ba chỉ nhắc phải luôn nhớ: nghề này có vui, nhưng rất vất vả và không ổn định. Sau lần ấy, mối quan hệ gia đình trở lại bình thường. Không ai khơi lại quá khứ.

- Quyết tâm theo đuổi đam mê, anh một mình tự kiếm tiền học, tự tìm cơ hội đặt chân vào giới nghệ thuật chuyên nghiệp châu Âu. Anh đã bắt đầu sự nghiệp của mình thế nào?

- Thời đi học, tôi dành toàn bộ thời gian cho tập luyện. Mỗi ngày chỉ ngủ 6 tiếng, 2 tiếng cho ăn uống sinh hoạt, còn lại là tung hứng. Đến mức tung hứng với tôi giống như hít thở - hành động phản xạ, không cần ý thức. Cứ mở mắt ra, cơ thể tự vận hành. Lúc đó, người ta chỉ nhớ về tôi với hình ảnh ngước cổ lên trời - tư thế tung hứng.

Song song với việc học ở trường, tôi luôn nghe ngóng. Ở đâu có cơ hội diễn xiếc, tôi đều quan tâm. May mắn có một sân khấu dành riêng cho những nghệ sĩ trẻ, thử nghiệm tiết mục mới. Tôi kiếm được đủ tiền để trang trải ăn uống, sinh hoạt từ đó.

Tôi cũng đăng ký tất cả cuộc thi. Năm 1998, tôi nhận huy chương vàng Liên hoan xiếc trẻ châu Âu. Sau đó, tôi bắt đầu có những lời mời diễn với hợp đồng 1 tháng, rồi 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng…

Tôi đi lên bằng sự cần cù, diễn từ nhà hát này sang nhà hát khác. Kể cả những show nhỏ, ít hấp dẫn tôi đều nhận. Ai gọi trước sẽ chốt lịch với người đó. Với tôi, tất cả đều là cơ hội, để tích luỹ kinh nghiệm và duy trì sự hiện diện. Tôi dành 80% thời gian trong năm để đi diễn, trong khi các nghệ sĩ khác chỉ khoảng 2 tháng. Do vậy, nghệ sĩ tự do thường gặp khó khăn khi phải liên tục tìm các hợp đồng diễn, với tôi thì hợp đồng tự tới.

Có lẽ tôi cũng được chú ý vì là độc bản. Một cậu bé nhỏ con, da vàng hiếm hoi giữa đất nước toàn nghệ sĩ da trắng, da đen. Phần trình diễn của tôi cũng khác lạ. Lúc đó, nghệ sĩ chỉ tung bóng, vòng. Tôi tự luyện tập để tung được cả mũ. Độc bản là yếu tố khiến tôi được ưu tiên.

Tôi đi từ sân khấu hạng C lên B, lên những sân khấu danh tiếng nhất của Đức, châu Âu rồi khắp thế giới.

- 16 năm, xuất phát với mục tiêu "không thất bại", anh đã chạm tới đỉnh cao nghề xiếc - trở thành nghệ sĩ Việt đầu tiên ký hợp đồng với đoàn xiếc hàng đầu thế giới Cirque du Soleil (Canada), là nghệ sĩ châu Á đầu tiên đạt giải "Nghệ sĩ xuất sắc" của Hiệp hội Nghệ sĩ Tung hứng Quốc tế. Lúc đó, anh nhìn nhận thế nào về những điều mình đạt được?

- 34 tuổi, tôi đạt được ước mơ thành nghệ sĩ được ghi nhận trên thế giới, hợp đồng nối tiếp năm này qua năm khác. Thấy được nỗ lực của mình được công nhận, đền đáp, tôi vui nhưng cảm giác đi kèm là lo sợ. Có lẽ quen với vất vả từ nhỏ, nên khi thành công tôi lại sợ mình quá hưng phấn. Tôi bắt đầu nghĩ đến việc mình giậm chân tại chỗ, tự hỏi: "Trang tiếp theo cuộc đời mình là gì?".

Tôi nhớ, năm 2011, tôi khi nhận hợp đồng diễn 9 tháng trên một du thuyền 5 sao di chuyển xuyên lục địa. Tàu sẽ lênh đênh trên biển 11 ngày, từ Miami băng qua Đại Tây Dương tới châu Âu và ngược lại. Mỗi đêm tôi chỉ diễn 1 suất, được trả 10.000 USD một tháng. Mọi tiện ích như: ăn, ở, giặt giũ… đều được cung cấp miễn phí. Lương cao nhưng tôi không thể tiêu một đồng nào. Thỉnh thoảng tôi được nghỉ chân tại những châu lục khác nhau. Nhưng mỗi 2 tuần, mọi thứ quay lại từ đầu, chỉ có hành khách là mới.

Một đêm, tôi đứng ở tầng cao nhất. Xung quanh, mênh mông biển, đen kịt. Lần đầu tiên tôi cảm giác được nỗi sợ. Sự "sẵn có" khiến tôi cảm thấy mình mất khả năng làm chủ cuộc sống. Tôi sợ sau 9 tháng trên thuyền, mình không còn những kỹ năng cơ bản: giặt giũ, tiêu tiền…

Tôi gọi cho chủ tàu và nói mình cần rời đi. Ngay khi chuyến đó cập bến Barcelona, tôi bắt taxi ra thẳng sân bay. Lúc đó tôi có thể về lại Đức, nhà cửa, gia đình ở đó. Nhưng ngồi đó suy nghĩ 20-30 phút, tôi đến quầy mua tấm vé một chiều về TP HCM.

- Chỉ trong 30 phút, quyết định bỏ lại 16 năm sự nghiệp để quay về Việt Nam với tấm vé một chiều. Anh đã cân nhắc những gì khi đưa ra quyết định này?

- Dừng hợp đồng trên tàu trước thời hạn, tôi có 5 tháng trống lịch. Nhưng các hợp đồng diễn cuối năm và năm sau đã ký kín. Trước khi lên tàu, tôi còn nhận được lời mời biên chế lâu dài từ UFA Fabrik. Nghĩa là một công việc ổn định đến khi về hưu, có lương hưu, có đầy đủ phúc lợi xã hội như một người Đức. Đó là một con đường rất an toàn. Tôi cũng nghĩ đến cuộc sống mình đã gây dựng ở Berlin. Một căn nhà nhỏ, một cộng đồng yêu thương. Nếu tôi không ở đó, họ sẽ nhớ tôi.

Về Việt Nam là một quyết định bất chợt. Và cũng như lần đầu tiên, tôi âm thầm ra đi.Trong tay lúc đó, tôi không có nhiều về vật chất. Vài chục nghìn euro không thể giải quyết được vấn đề gì lớn. Thứ tôi có chỉ là kinh nghiệm, trải nghiệm và kiến thức chuyên môn.

Khoảnh khắc ngồi ở sân bay Barcelona, tôi nghĩ: mình có thể tiếp tục đi diễn ở châu Âu, trên thế giới, thỉnh thoảng về Việt Nam vài tuần hay vài tháng làm các dự án nhỏ. Nhưng nếu tâm thế chỉ là "khi nào rảnh thì làm", tôi sẽ không xây dựng được điều gì. Nếu muốn đạt được, tôi phải thực sự làm, phải sống ở đó, ở cạnh con người, văn hóa, nhịp sống của nơi đó… mới mong có cơ hội tạo ra với điều mình ấp ủ.

- Vậy lúc đó anh ấp ủ điều gì khi quay về Việt Nam?

- Thời còn đi diễn ở Berlin, tôi khám phá ra một thế giới gọi là variety theater – sân khấu tạp kỹ. Vẫn là xiếc, nhào lộn, tung hứng, nhưng không phải là những tiết mục rời rạc. Tất cả được kết nối thành một vở diễn có kịch bản, có cấu trúc, có thông điệp rõ ràng. Tôi bị mê hoặc bởi mô hình đó. Nó mở ra một cách nhìn hoàn toàn khác về nghệ thuật biểu diễn.

Đó cũng là lúc tôi nhận ra, điều quan trọng nhất với tôi là quyền quyết định cao nhất về chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Nếu chỉ đứng trên sân khấu thực hiện ý tưởng của người khác, tôi biết sớm muộn gì mình cũng thấy chật chội. Tôi phải là người tạo ra tác phẩm.

Mười năm, tôi âm thầm chuẩn bị cho giấc mơ đó.

Trong những chuyến công tác ở Broadway (Mỹ) - "thánh địa" nhạc kịch của thế giới với hơn 40 nhà hát chuyên nghiệp, nơi hội tụ các vở diễn kinh điển, tôi đã đi xem gần như tất cả chương trình. Có lúc, tôi xem cả trăm vở. Tôi ghi chép lại mọi thứ: nội dung, cấu trúc, cách tổ chức, không gian biểu diễn. Tôi tự tạo cho mình một giáo trình riêng.

Còn tại sao lại là Việt Nam? Vì tôi nhìn thấy một tiềm năng rất màu mỡ. Một vùng đất gần như chưa ai chạm tới ở mô hình sân khấu tạp kỹ kể chuyện.

- Trở về với ấp ủ làm show tạp kỹ kết hợp xiếc, anh thấy gì khi nhìn vào thực tế ngành xiếc trong nước?

- Quay về những đoàn xiếc mình từng làm ở Sài Gòn, tôi giật mình và hơi buồn. Mười mấy năm trôi qua, mọi thứ vẫn y nguyên như lúc mình rời đi. Các nghệ sĩ vẫn nỗ lực làm nghề. Nhưng thu hẹp trong phạm vi diễn xiếc - làm những động tác khó, ví dụ người bình thường đi bằng hai chân, nghệ sĩ xiếc đi bằng hai tay.

Một nhà sản xuất người Pháp từng nói với tôi: "Xiếc truyền thống trên thế giới chết rồi". Hiện tại, không ai còn dắt con cháu vào rạp chỉ để xem những tiết mục lặp lại qua nhiều thập kỷ. Thậm chí, thế giới đã cấm dùng thú diễn. Nếu muốn xiếc tồn tại, phải làm điều khác. Tôi cũng có chút tự ái.

Sau khi về Việt Nam, tôi cũng đi từ Bắc xuống Nam, tìm một đặc trưng của xiếc truyền thống Việt. Nhưng cũng không thấy, tôi quyết định tự tạo ra nó, tìm danh tính cho xiếc Việt.

- Anh cho rằng, đâu là yếu tố anh cần tạo ra được để xây dựng được "danh tính" cho xiếc Việt?

- Về kỹ thuật, xiếc Việt Nam không thể so sánh được với Trung Quốc hay Nga - bậc thầy về kỹ năng cơ thể. Vì vậy, xiếc Việt Nam không thể phô diễn kỹ thuật phi thường, mà phải nhấn vào kỹ thuật tập thể. Và sự độc bản của xiếc Việt đến từ cách lột tả văn hoá Việt: đạo cụ, tư thế xiếc với chất liệu thuần Việt, âm nhạc cổ truyền, ánh sáng… Tất cả tạo ra concept tổng hòa với hiệu ứng thị giác ấn tượng.

Trước khi về hẳn, năm 2005, tôi đã thực hiện một dự án ở Hà Nội. Các nghệ sĩ được sáng tạo ra các kỹ thuật mới với chất liệu là tre, chum, vại… Vở Làng tôi - kịch xiếc đầu tiên kể về làng quê Bắc Bộ ra đời. Chúng tôi quay lại tư liệu, mang sang Pháp giới thiệu và có được quyết định đầu tư.

Tôi còn nhớ, trong quá trình tập luyện, vợ của ông Jean-Luc Larguier (nhà sản xuất người Pháp) đã theo sát đoàn. Khi chứng kiến cảnh một diễn viên đứng trên ngọn tre, bà đã "vỡ òa", nhận ra đây chính là điểm độc bản, khán giá thế giới chưa từng được thấy. Sau đó vở này đã lưu diễn khắp châu Âu, “xiếc tre” đã chạm chân tới thị trường quốc tế.

Trong buổi ra mắt vở đầu tiên, Trung Võ - cổ đông lớn của Lune Production (đơn vị sản xuất Làng tôi, À Ố Show hiện tại) cũng tình cờ đến xem. Khi tôi về hẳn Việt Nam, Trung cũng ấp ủ một chương trình phục vụ khách du lịch tại Sài Gòn. Chúng tôi ngồi lại với nhau. Concept đã có. À Ố Show tiếp tục ra đời, kể câu chuyện từ "làng" ra "phố" của Nam Bộ. Thời điểm đó, Sài Gòn gần như chưa có một sản phẩm sân khấu bài bản dành cho khách du lịch. Chúng tôi nhận được sự ủng hộ. Nhà hát Lớn mời diễn chỉ sau một hai ngày trao đổi. Hệ thống bán vé bắt đầu chạy và kín chỗ chỉ sau 2 tuần ra mắt. Sau 2 năm ra đời, À Ố Show cũng bắt đầu lưu diễn khắp thế giới.

- Đâu là bài toán khó nhất để đưa được các vở diễn của mình đi qua 13 quốc gia, hơn 60 nhà hát tiêu chuẩn châu Âu?

- Những năm đầu tiên thực sự rất áp lực. Lúc đó tôi đã quyết định ở lại Việt Nam. Toàn bộ tâm huyết tôi dồn hết vào việc hoàn thiện tác phẩm. Hoặc mình làm cho nó sống, không thì mình chết theo.

Với À Ố Show, tôi cũng thuyết phục lại chính những nhà đầu tư cũ. Lúc này bị đặt lên bàn cân so với vở đầu tiên, yếu tố mới lạ giảm bớt. Tôi mất 3 năm, điều chỉnh lại nhiều động tác, thay đổi concept từ "dài" sang "tròn". Chất liệu chủ đạo của Làng tôi là cây tre thì À Ố là thúng, mẹt.

Nhân sự biểu diễn cũng rất khó khăn. Nếu Làng Tôi quy tụ những nghệ sĩ giỏi nhất, thì À Ố lại bắt đầu trong điều kiện gần như ngược lại vì dự định kết hợp với đoàn xiếc TP HCM không thành. Rất nhiều diễn viên còn rất trẻ, chưa được đào tạo bài bản. Kỹ năng cá nhân không nổi trội. Tôi tốn nhiều công nhất ở phần này.

May mắn Làng tôi đã đặt sẵn nền móng, đối tác cũng đã nắm gu thẩm mỹ của mình. Khi đó, tôi cũng hiểu ra rằng, châu Âu, đặc biệt là Pháp vận hành theo tiêu chuẩn tương tự nhau. Khi đã vào được một nhà hát trong hệ thống, cánh cửa đến những nhà hát còn lại gần như mở ra.

Từ nền tảng ấy, lời mời từ những thị trường mới tự nhiên xuất hiện: Nhật Bản, Ả Rập Saudi, rồi Australia...

Tôi cho rằng đến nay, khán giả thế giới đã là người kiểm chứng cho “danh tính” xiếc Việt mà tôi ấp ủ.

- 13 năm ở Việt Nam, anh không chỉ đưa khái niệm tạp kỹ xiếc tới khán giả Việt mà còn đem xiếc Việt đi khắp thế giới. Liệu còn "đỉnh cao" nào khác anh muốn chinh phục?

Trước đại dịch, chúng tôi đã có một kỳ vọng khá lớn. Mang mô hình tổ chức và sản xuất của mình đến những thành phố khác ở Đông Nam Á. Với tham vọng phương Tây có "Mặt trời" - Cirque du "Soleil" thì phương Đông có "Mặt trăng" - "Lune" Production. Chúng tôi từng tính đến Bali, đến Siem Reap – những điểm đến du lịch giàu bản sắc, kết hợp với nghệ sĩ bản địa, kể câu chuyện của chính vùng đất ấy. Tuy nhiên, đại dịch xuất hiện, và những biến động sau đó khiến nhịp phát triển bị kéo chậm lại.

Bên cạnh đó, ở Việt Nam, tôi cũng có một ấp ủ đã hơn chục năm. Đó là không gian tạp kỹ (cabaret), kết hợp giữa nghệ thuật trình diễn (xiếc, ảo thuật, múa, âm nhạc…) và ẩm thực. Tôi không muốn họ chỉ đến nhà hát, mua vé, ngồi vào ghế, chờ đèn tắt, xem xong rồi đứng dậy ra về. Tôi muốn phá vỡ cấu trúc đó. Đây là điều Việt Nam chưa có.

- Nhìn lại hành trình của mình, 2 lần anh đưa ra quyết định lớn đều diễn ra trong thời gian rất ngắn, sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ giá trị với mình. Anh đã suy nghĩ như thế nào về khả năng thất bại?

Tôi không nghĩ nhiều về được – mất. Tôi đặt niềm tin vào trực giác của mình vào thời điểm quyết định.

Với tôi, làm việc gì cũng phải bắt đầu từ một đam mê. Đam mê đòi hỏi đầu tư, sự nghiêm túc và phải thực sự làm. Khi đã chọn làm, thì phải cố gắng đến cùng. Không có điều gì tự nhiên đến.

Với xiếc cũng vậy. Phải gần 20 tuổi tôi mới thực sự cảm nhận được đam mê của mình. Và khi đã xác định đó là con đường, tôi tự nhủ phải dốc toàn bộ sức lực, toàn bộ năng lượng vào đó. Phải dựa vào nó để tồn tại.

Người nhiều tin vào may mắn, tôi thì không. Với tôi, tất cả may mắn đều đến từ nỗ lực.

- Nếu chọn một vật để mô tả về mình, anh sẽ chọn gì?

- Ngày trước, tôi như một trái bóng.

Còn hôm nay, tôi muốn mình giống nước. Tôi xuôi theo dòng chảy cuộc sống, nước chảy đến đâu thì mình đi theo đó. Đến những nơi phù hợp, mình nán lại trải nghiệm.

Nước cũng có thể kết hợp với những chất liệu khác để tạo ra những giá trị mới. Ví dụ, đất và nước hòa vào nhau thành đất sét, khô lại có thể thành gốm.

Có thể vài chục năm nữa, tôi cũng như nước – bốc hơi, tan đi. Nhưng điều tôi đã tạo ra có thể vẫn tồn tại.

Nội dung: Thùy Ngân - Leo Doan

Video: Bảo Quyên - Kim Long - Trung Kiên

Ảnh: Phùng Tiên

Đồ họa: Kim Long - Leo Dang