- Anh đã thuyết phục gia đình thế nào để được quay lại với nghề?
- Chia sẻ với gia đình, tôi vẫn không có sự đồng thuận.
Trong đầu tôi lúc đó đã rất chắc chắn với quyết định đi học. Cơ hội đã đến. Tôi nghĩ đến hai trường hợp, hoặc thỏa hiệp để được đồng thuận, nếu không được thì con đường duy nhất là phải bỏ nhà ra đi. Không có lựa chọn từ bỏ.
Tôi và ba ở chung một phòng. Nhưng lúc đó không thể đối mặt để nói rằng: gia đình không đồng ý, con phải bỏ nhà đi và để ba lại một mình. Sau hai ngày suy nghĩ, tôi lấy một túi rác, nhét tất cả những gì trước mặt có thể mang theo. Không lời tạm biệt. Tôi chỉ âm thầm đi.
Tôi là người chăm sóc ba nhiều nhất từ khi ông bệnh. Tôi đi, ông ở lại với với gia đình anh trai cả. Đó có lẽ là đánh đổi lớn nhất, khoảnh khắc đau khổ nhất đời tôi.
Lúc đó tôi đã xác định xiếc là đam mê. Mà đã đam mê thì phải đầu tư, phải quyết liệt. Tôi tin chỉ khi ra khỏi nhà, mình mới làm được điều mình dự định. Nếu ở lại, sẽ có nhiều cản trở.
- Khoảnh khắc xách túi rời nhà vào trường xiếc, anh nghĩ tới điều gì nhiều nhất?
- Bước lên xe buýt, tôi không dám nghĩ tới thành công, nhưng tự nhủ mình không được phép thất bại. Khi đã chọn, tôi xác định phải dốc toàn bộ sức lực và năng lượng, phải tồn tại được trên thế giới này bằng con đường mình chọn.
May mắn, lúc đó, có những người cho tôi niềm tin.
Ngày đầu tiên bước vào trường, thầy chủ nhiệm bắt tay tôi hỏi: “Sao em không đi diễn luôn, vào đây làm gì?”.
Trong lúc học, tôi cũng tìm cơ hội diễn khắp nơi. Tôi tới một trung tâm văn hóa UFa Fabrik tại Berlin, gặp ông chủ là Juppy – mentor của tôi sau này. Tôi giới thiệu bản thân, khoe mình biết tung hứng. Ông chỉ hỏi xã giao rồi bảo ghé lại sau. Nhưng tôi khăng khăng thuyết phục, đòi diễn cho ông xem. Lúc đó, có gì tôi lấy ra tung hết. Trước khi về, ông vỗ vai nói: "Nếu thật sự nghiêm túc, mày có thể kiếm được rất nhiều tiền từ kỹ năng đó".
Suốt 3-4 năm đó, tôi không liên lạc với gia đình. Lần đầu tiên nhận được hợp đồng diễn chuyên nghiệp tại một nhà hát ở Đức, tôi mới gọi điện cho anh trai, mời xuống Stuttgart xem. Đó là lần đầu tiên tôi cho phép mình có tâm thế gặp lại người thân. Vì lúc đó, tôi làm được điều tôi nói, điều mà trước không ai tin.
Vài tháng sau, tôi về nhà thăm ba. Vốn bản tính hiền lành, điềm đạm, kiệm lời, ông không trách móc, cũng không hỏi han điều gì về chuyện cũ. Tôi chủ động kể về cuộc sống mới, ba chỉ nhắc phải luôn nhớ: nghề này có vui, nhưng rất vất vả và không ổn định. Sau lần ấy, mối quan hệ gia đình trở lại bình thường. Không ai khơi lại quá khứ.
- Quyết tâm theo đuổi đam mê, anh một mình tự kiếm tiền học, tự tìm cơ hội đặt chân vào giới nghệ thuật chuyên nghiệp châu Âu. Anh đã bắt đầu sự nghiệp của mình thế nào?
- Thời đi học, tôi dành toàn bộ thời gian cho tập luyện. Mỗi ngày chỉ ngủ 6 tiếng, 2 tiếng cho ăn uống sinh hoạt, còn lại là tung hứng. Đến mức tung hứng với tôi giống như hít thở - hành động phản xạ, không cần ý thức. Cứ mở mắt ra, cơ thể tự vận hành. Lúc đó, người ta chỉ nhớ về tôi với hình ảnh ngước cổ lên trời - tư thế tung hứng.
Song song với việc học ở trường, tôi luôn nghe ngóng. Ở đâu có cơ hội diễn xiếc, tôi đều quan tâm. May mắn có một sân khấu dành riêng cho những nghệ sĩ trẻ, thử nghiệm tiết mục mới. Tôi kiếm được đủ tiền để trang trải ăn uống, sinh hoạt từ đó.
Tôi cũng đăng ký tất cả cuộc thi. Năm 1998, tôi nhận huy chương vàng Liên hoan xiếc trẻ châu Âu. Sau đó, tôi bắt đầu có những lời mời diễn với hợp đồng 1 tháng, rồi 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng…
Tôi đi lên bằng sự cần cù, diễn từ nhà hát này sang nhà hát khác. Kể cả những show nhỏ, ít hấp dẫn tôi đều nhận. Ai gọi trước sẽ chốt lịch với người đó. Với tôi, tất cả đều là cơ hội, để tích luỹ kinh nghiệm và duy trì sự hiện diện. Tôi dành 80% thời gian trong năm để đi diễn, trong khi các nghệ sĩ khác chỉ khoảng 2 tháng. Do vậy, nghệ sĩ tự do thường gặp khó khăn khi phải liên tục tìm các hợp đồng diễn, với tôi thì hợp đồng tự tới.
Có lẽ tôi cũng được chú ý vì là độc bản. Một cậu bé nhỏ con, da vàng hiếm hoi giữa đất nước toàn nghệ sĩ da trắng, da đen. Phần trình diễn của tôi cũng khác lạ. Lúc đó, nghệ sĩ chỉ tung bóng, vòng. Tôi tự luyện tập để tung được cả mũ. Độc bản là yếu tố khiến tôi được ưu tiên.
Tôi đi từ sân khấu hạng C lên B, lên những sân khấu danh tiếng nhất của Đức, châu Âu rồi khắp thế giới.
- 16 năm, xuất phát với mục tiêu "không thất bại", anh đã chạm tới đỉnh cao nghề xiếc - trở thành nghệ sĩ Việt đầu tiên ký hợp đồng với đoàn xiếc hàng đầu thế giới Cirque du Soleil (Canada), là nghệ sĩ châu Á đầu tiên đạt giải "Nghệ sĩ xuất sắc" của Hiệp hội Nghệ sĩ Tung hứng Quốc tế. Lúc đó, anh nhìn nhận thế nào về những điều mình đạt được?
- 34 tuổi, tôi đạt được ước mơ thành nghệ sĩ được ghi nhận trên thế giới, hợp đồng nối tiếp năm này qua năm khác. Thấy được nỗ lực của mình được công nhận, đền đáp, tôi vui nhưng cảm giác đi kèm là lo sợ. Có lẽ quen với vất vả từ nhỏ, nên khi thành công tôi lại sợ mình quá hưng phấn. Tôi bắt đầu nghĩ đến việc mình giậm chân tại chỗ, tự hỏi: "Trang tiếp theo cuộc đời mình là gì?".
Tôi nhớ, năm 2011, tôi khi nhận hợp đồng diễn 9 tháng trên một du thuyền 5 sao di chuyển xuyên lục địa. Tàu sẽ lênh đênh trên biển 11 ngày, từ Miami băng qua Đại Tây Dương tới châu Âu và ngược lại. Mỗi đêm tôi chỉ diễn 1 suất, được trả 10.000 USD một tháng. Mọi tiện ích như: ăn, ở, giặt giũ… đều được cung cấp miễn phí. Lương cao nhưng tôi không thể tiêu một đồng nào. Thỉnh thoảng tôi được nghỉ chân tại những châu lục khác nhau. Nhưng mỗi 2 tuần, mọi thứ quay lại từ đầu, chỉ có hành khách là mới.
Một đêm, tôi đứng ở tầng cao nhất. Xung quanh, mênh mông biển, đen kịt. Lần đầu tiên tôi cảm giác được nỗi sợ. Sự "sẵn có" khiến tôi cảm thấy mình mất khả năng làm chủ cuộc sống. Tôi sợ sau 9 tháng trên thuyền, mình không còn những kỹ năng cơ bản: giặt giũ, tiêu tiền…
Tôi gọi cho chủ tàu và nói mình cần rời đi. Ngay khi chuyến đó cập bến Barcelona, tôi bắt taxi ra thẳng sân bay. Lúc đó tôi có thể về lại Đức, nhà cửa, gia đình ở đó. Nhưng ngồi đó suy nghĩ 20-30 phút, tôi đến quầy mua tấm vé một chiều về TP HCM.
- Chỉ trong 30 phút, quyết định bỏ lại 16 năm sự nghiệp để quay về Việt Nam với tấm vé một chiều. Anh đã cân nhắc những gì khi đưa ra quyết định này?
- Dừng hợp đồng trên tàu trước thời hạn, tôi có 5 tháng trống lịch. Nhưng các hợp đồng diễn cuối năm và năm sau đã ký kín. Trước khi lên tàu, tôi còn nhận được lời mời biên chế lâu dài từ UFA Fabrik. Nghĩa là một công việc ổn định đến khi về hưu, có lương hưu, có đầy đủ phúc lợi xã hội như một người Đức. Đó là một con đường rất an toàn. Tôi cũng nghĩ đến cuộc sống mình đã gây dựng ở Berlin. Một căn nhà nhỏ, một cộng đồng yêu thương. Nếu tôi không ở đó, họ sẽ nhớ tôi.
Về Việt Nam là một quyết định bất chợt. Và cũng như lần đầu tiên, tôi âm thầm ra đi.Trong tay lúc đó, tôi không có nhiều về vật chất. Vài chục nghìn euro không thể giải quyết được vấn đề gì lớn. Thứ tôi có chỉ là kinh nghiệm, trải nghiệm và kiến thức chuyên môn.
Khoảnh khắc ngồi ở sân bay Barcelona, tôi nghĩ: mình có thể tiếp tục đi diễn ở châu Âu, trên thế giới, thỉnh thoảng về Việt Nam vài tuần hay vài tháng làm các dự án nhỏ. Nhưng nếu tâm thế chỉ là "khi nào rảnh thì làm", tôi sẽ không xây dựng được điều gì. Nếu muốn đạt được, tôi phải thực sự làm, phải sống ở đó, ở cạnh con người, văn hóa, nhịp sống của nơi đó… mới mong có cơ hội tạo ra với điều mình ấp ủ.
- Vậy lúc đó anh ấp ủ điều gì khi quay về Việt Nam?
- Thời còn đi diễn ở Berlin, tôi khám phá ra một thế giới gọi là variety theater – sân khấu tạp kỹ. Vẫn là xiếc, nhào lộn, tung hứng, nhưng không phải là những tiết mục rời rạc. Tất cả được kết nối thành một vở diễn có kịch bản, có cấu trúc, có thông điệp rõ ràng. Tôi bị mê hoặc bởi mô hình đó. Nó mở ra một cách nhìn hoàn toàn khác về nghệ thuật biểu diễn.
Đó cũng là lúc tôi nhận ra, điều quan trọng nhất với tôi là quyền quyết định cao nhất về chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Nếu chỉ đứng trên sân khấu thực hiện ý tưởng của người khác, tôi biết sớm muộn gì mình cũng thấy chật chội. Tôi phải là người tạo ra tác phẩm.
Mười năm, tôi âm thầm chuẩn bị cho giấc mơ đó.
Trong những chuyến công tác ở Broadway (Mỹ) - "thánh địa" nhạc kịch của thế giới với hơn 40 nhà hát chuyên nghiệp, nơi hội tụ các vở diễn kinh điển, tôi đã đi xem gần như tất cả chương trình. Có lúc, tôi xem cả trăm vở. Tôi ghi chép lại mọi thứ: nội dung, cấu trúc, cách tổ chức, không gian biểu diễn. Tôi tự tạo cho mình một giáo trình riêng.
Còn tại sao lại là Việt Nam? Vì tôi nhìn thấy một tiềm năng rất màu mỡ. Một vùng đất gần như chưa ai chạm tới ở mô hình sân khấu tạp kỹ kể chuyện.