Đây là cuộc cách mạng về tư duy, hay chỉ là sự loay hoay giữa bảo tồn và phát triển, phụ thuộc vào việc mong đợi ấy được cụ thể hóa như thế nào trên bản vẽ.
ADN của Hà Nội mang gốc gác nông thôn. Thăng Long - Kẻ Chợ phồn hoa nhờ sự bám rễ của những phường thợ, những làng nghề từ tứ xứ châu thổ sông Hồng. Hàng Đào nhuộm tơ của làng Đan Điền, Hàng Bạc đúc nén của thợ Châu Khê, Lò Rèn rinh nguyên bễ thổi từ làng Hòe Thị.
Nhìn vào bản đồ Thăng Long xưa, đó chưa bao giờ là một đô thị nén bức bối. Nó là một chùm làng mạc đan cài hệ thống ao hồ, chằng chịt thủy hệ Tô Lịch, Kim Ngưu. Cái "làng" thuở ấy thở cùng một nhịp với tự nhiên. Không gian vật lý dung chứa tinh thần cộng đồng.
Cái hay của "làng trong phố" chính là triết lý cộng sinh, bảo tồn mạng lưới xã hội. Bước vào một con ngõ nhỏ đường Hoàng Hoa Thám hay Thụy Khuê, ta vẫn thấy cổng làng, thấy đình thờ thành hoàng, thấy người dân tương tác với nhau theo một lề thói cộng đồng làng xã, dù chỉ cách đó vài trăm mét là những cao ốc hiện đại.
"Làng trong phố" của Hà Nội hôm nay mang hình hài gì? Đô thị hóa đã nhai nuốt đất nông nghiệp. Những ngôi làng ven đô như Khương Hạ, Triều Khúc, Làng Cót hay Phú Đô bị bêtông hóa. Kênh rạch bị lấp cạn, ao làng hóa bãi đỗ xe. Những chung cư mini mười tầng trong con ngõ chưa đầy hai sải tay mọc lên. Ở đó, người ta không "sống", người ta chỉ "trú".
Nhìn ra thế giới, lịch sử quy hoạch từng chứng kiến những thảm họa khi người ta cố nhốt cái "làng" vào giữa lòng "phố".
Bài học trị giá hàng tỷ USD từ mô hình "Thành trung thôn" tại Thâm Quyến và Quảng Châu. Thập niên 90 thế kỷ trước, các đặc khu phình to, đại lộ nuốt chửng làng mạc, nông dân mất ruộng. Họ phản kháng bằng cách tự cơi nới nền đất thổ cư chật hẹp, cấy lên đó những khối hộp cho lao động nhập cư thuê. Họ đẻ ra các "Lâu đài bắt tay" - những tòa nhà sát rạt nhau đến mức hàng xóm có thể bắt tay nhau qua cửa sổ.
Giới học giả từng ca ngợi đó là nơi lưu giữ văn hóa bản địa, cung cấp nhà giá rẻ. Nhưng thực tế, chúng là những ổ chuột trên cao, nơi tội phạm bám rễ và hỏa hoạn chực chờ. Rốt cuộc, chính quyền Trung Quốc phải trả giá bằng hàng chục tỷ USD để mang máy xúc san phẳng hàng trăm "thành trung thôn".
Vụ cháy cướp đi 56 sinh mạng ở Khương Hạ, Thanh Xuân năm 2023 chính là sự cảnh tỉnh Hà Nội - có thể đang giẫm lại vết xe đổ này.
Ở một cực khác, thế giới có những "thợ kim hoàn" biết cách khảm cái "làng" vào "phố".
Hãy mua một vé tàu cao tốc đến Kyoto, Nhật Bản. Cố đô này giữ lại những khu phố với nếp nhà gỗ truyền thống Machiya đan cài giữa đô thị hiện đại. Năm 2007, Kyoto ban hành "Chính sách Cảnh quan Mới". Họ gọt độ cao của các tòa nhà thương mại để không che khuất di sản vật thể. Họ quy định nghiêm ngặt màu sắc, vật liệu của từng viên ngói. Làng trong phố của Kyoto sống chất lượng nhờ hạ tầng ngầm tối tân. Chôn sâu dưới lòng những con hẻm hẹp uốn lượn là hệ thống cáp quang, mạng lưới thoát nước chống ngập và vòi cứu hỏa thông minh.
Singapore - một quốc gia đô thị nén - giải bài toán làng đô thị bằng dự án Kampung Admiralty. Chính phủ không dựng lại những mái nhà tranh vách đất. Họ cấy "hồn làng" vào một hệ sinh thái thẳng đứng: tầng trệt là quảng trường sinh hoạt chung, tầng giữa là trung tâm y tế, tầng trên cùng là công viên xanh đan xen căn hộ. Người Singapore hiểu rằng, hồn cốt của làng không nằm ở lũy tre, mà nằm ở "không gian tương tác". Họ kiến tạo một cấu trúc buộc con người phải bước ra khỏi nhà, gặp gỡ và đùm bọc lẫn nhau.
Con người kiến tạo nên không gian, nhưng chính không gian sẽ quay lại nhào nặn cốt cách của con người. Khi Hà Nội đặt cược tương lai trăm năm vào triết lý "Làng trong phố, phố trong làng", dưới góc độ văn hóa, chính là chuẩn bị thiết lập "chiếc khuôn đúc" nhằm thai nghén bộ gen cho công dân Thủ đô.
Bản sắc làng cổ truyền là tính cố kết cộng đồng, được nuôi dưỡng tại các "không gian thứ ba" như sân đình, bến nước, gốc đa. Khi đô thị hóa tràn qua, con người bị nhốt vào hai không gian khép kín, nhà ở và nơi làm việc, dẫn đến căn bệnh cô đơn và vô cảm.
Bởi thế, trong các vùng lõi "làng" giữa đô thị, quy hoạch phải dành chỗ cho các quảng trường vi mô. Đây là những hạt nhân sinh thái rợp bóng cây, có mặt nước, tạo nên những không gian mở làm bệ đỡ cho tình người. Các quảng trường vi mô này thực chất là không gian sân đình, bến nước, gốc đa thế kỷ 21, nơi lưu giữ niềm tin tâm linh, bản sắc văn hóa cộng đồng.
Lỗi lầm phổ biến của tư duy bảo tồn là chỉ trang điểm cái vỏ rêu phong bên ngoài mà bỏ quên chất lượng sống bên trong. Văn hóa không thể thăng hoa trong sự dột nát hay nơm nớp lo sợ hỏa hoạn.
Di sản làng chỉ có thể kiêu hãnh khi nó được đặt trên bệ đỡ hạ tầng tối tân của phố. Ẩn dưới những nếp nhà ngói thâm nâu, những con ngõ thanh bình, bắt buộc phải là một hệ thống "hạ tầng tàng hình" của thế kỷ 22: mạng lưới thu gom nước thải, hệ thống cáp quang ngầm, mạng lưới phòng cháy chữa cháy. Chỉ khi người dân được sống an toàn, tiện nghi trong lớp vỏ truyền thống, họ mới tự nguyện trở thành những "người gác đền" bảo vệ di sản.
Phố quản lý bằng "luật", làng duy trì bằng "lệ". Sự lộn xộn của các khu dân cư hiện nay như tiện đâu vứt rác đó, cơi nới "chuồng cọp"... do người dân mang thói quen tiểu nông tùy tiện vào không gian nén, nơi pháp luật vĩ mô không thể với tới những vi phạm nhỏ nhặt hàng ngày. Cần khuyến khích và trao quyền cho các cộng đồng khu phố biên soạn những bộ "Hương ước" dựa trên khung pháp luật chung. Khi người dân tự nguyện thiết lập và giám sát nhau bằng sức mạnh của dư luận, áp lực xã hội từ bên trong sẽ là màng lọc văn minh hiệu quả bổ trợ cho luật pháp.
Nhà nước cần áp dụng công cụ "Chuyển nhượng quyền phát triển". Nếu cấm người dân vùng lõi di sản như Đường Lâm, Vạn Phúc... xây cao tầng, thành phố phải trả tiền cho sự hy sinh ấy bằng các ưu đãi thuế. Đừng ép người dân sống chật vật để trang trí sinh động cho bản đồ quy hoạch.
Một không gian đan xen thành công sẽ đóng vai trò như một lò luyện đan văn hóa. Nó tước bỏ thói tùy tiện, luộm thuộm của "nhà quê", đồng thời xóa đi sự lạnh lùng, ẩn danh của "thành thị nén". Nhờ sự hiện diện của di sản làng ngay trong lòng đô thị, người Thủ đô sở hữu một chiếc mỏ neo lịch sử vững chãi. Giữa một thế giới phẳng dễ làm con người mất gốc và lai căng, bề dày văn hóa nghìn năm giúp người Hà Nội giữ được sự tự tôn tĩnh tại.
Quy hoạch một Thủ đô ngàn năm văn hiến là nghệ thuật dung chứa và chuyển hóa không ngừng. Đích đến không phải để lại cho đời sau một di sản kiến trúc lai ghép, mà là đúc tạo ra một thế hệ Công dân Thủ đô hoàn thiện.
Hà Nội đưa triết lý "Làng trong phố" vào đề án trăm năm thể hiện sự trân trọng di sản tiếp nối của các thế hệ. Nhưng nếu đằng sau những chiếc cổng làng rêu phong vẫn là những ngõ ngách tối tăm xe cấp cứu không lọt, mưa to vài tiếng nước đã tràn ngập trong nhà, thì cây đa, giếng nước, sân đình cũng chỉ là những món đồ hàng mã - hoài niệm, sặc sỡ, nhưng rỗng tuếch.
Làng trong phố, di sản cũ hay quy hoạch mới, rốt cuộc cũng chỉ nhằm phục vụ phẩm giá sống của con người.
Trương Công Tú