Theo quy định của pháp luật, vàng nhẫn 9999 là đối tượng của hợp đồng vay tài sản. Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, anh vay 5 chỉ vàng nhẫn 9999 (thực tế thường gọi là mượn) thì đến hạn phải trả đúng 5 chỉ vàng nhẫn 9999, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.
Thực tế, nhiều trường hợp cho vay vàng nhưng trong hợp đồng quy định là trả lại bằng tiền tính theo giá trị vàng tại thời điểm cho vay, thì đến hạn bên vay phải trả lại tiền. Ví dụ: Lúc cho vay vàng giá là 185 triệu đồng/lượng, đến hạn trả giá vàng có lên 200 triệu đồng/lượng hay hạ xuống 170 triệu đồng/lượng thì bên vay cũng phải trả 185 triệu đồng cho mỗi lượng vàng đã vay vì trong hợp đồng đã quy định rõ điều này.
Lưu ý: Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Luật sư Phạm Thanh Hữu
Đoàn luật sư TP HCM