Nghiên cứu của UNDP về đánh giá ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch được thực hiện ở Ninh Bình và Đà Nẵng công bố ngày 6/2 cho thấy, phía sau những con số ấn tượng về lượng khách và doanh thu là áp lực môi trường ngày càng rõ, ô nhiễm rác thải nhựa đang dần trở thành rủi ro kinh tế đối với chính ngành du lịch.
2025 du lịch Việt Nam đón gần 22 triệu lượt khách quốc tế, 135 triệu khách nội địa đưa lĩnh vực này trở thành mũi nhọn khi đóng góp trực tiếp gần 9% vào tổng GDP và đang phấn đấu mục tiêu đóng góp trực tiếp đến 12 – 14% GDP vào năm 2030.
Rác thải dưới biển ở Đà Nẵng được tình nguyện viên vớt đưa lên bờ. Ảnh: Nguyễn Đông
Năm 2025, Ninh Bình đón khoảng 19,4 triệu lượt khách, đạt doanh thu hơn 21.000 tỷ đồng. Đà Nẵng đón khoảng 20,3 triệu lượt khách với tổng doanh thu du lịch ước đạt 70.000 - 72.000 tỷ đồng. Quy mô và mức độ tập trung cao của các hoạt động du lịch cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa lượng khách và lượng chất thải phát sinh, đặc biệt là rác nhựa.
Theo UNDP, lượng chất thải rắn từ hoạt động du lịch tại Ninh Bình vào khoảng 27,2 tấn mỗi ngày. Xét trên quy mô toàn tỉnh, con số này chỉ chiếm khoảng 1,08% tổng lượng rác, song tại các xã du lịch trọng điểm như Hoa Lư, rác du lịch có thể chiếm tới 20% lượng rác phát sinh. Đáng chú ý, rác nhựa chiếm khoảng 18,5%, tương đương hơn 5 tấn mỗi ngày.
Tại Đà Nẵng, nơi có hạ tầng du lịch và đô thị phát triển mạnh, rác thải từ du lịch lên tới gần 118 tấn mỗi ngày, chiếm gần 6% tổng lượng rác toàn thành phố, trong đó rác nhựa khoảng 16 tấn. Quy mô phát thải lớn đặt ra áp lực ngày càng nặng nề lên hệ thống thu gom, xử lý rác thải đô thị và môi trường biển ven bờ.
Điểm đáng chú ý của nghiên cứu là cường độ phát thải rác của du khách cao hơn nhiều so với người dân địa phương. Trung bình, một du khách lưu trú tại Đà Nẵng thải ra hơn 2 kg rác mỗi ngày, gấp hơn hai lần so với mức khoảng 0,5 kg mỗi ngày của du khách tại Ninh Bình.
Riêng rác nhựa, mỗi du khách phát sinh từ 0,12 đến 0,27 kg mỗi ngày, cao gấp 1,7-2 lần so với người dân sở tại. Điều này cho thấy du khách là nguồn phát sinh chính của rác nhựa tại các điểm đến, thay vì cộng đồng địa phương như nhiều quan niệm trước đây.
Hoạt động du lịch Tam Cốc - Bích Động ở Ninh Bình. Ảnh: Lê Hoàng
Thành phần rác nhựa cũng phản ánh rõ đặc thù du lịch của từng địa phương. Tại Ninh Bình, chai nhựa PET chiếm tới 38% tổng lượng rác nhựa, tiếp theo là túi nilon với khoảng 19%. Đặc thù tham quan bằng thuyền và đi bộ dài ngày tại các khu di sản, hang động khiến nhu cầu sử dụng nước uống đóng chai tăng cao.
Ngược lại, tại Đà Nẵng, túi nilon và các sản phẩm nhựa dùng một lần chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 23,7%, phản ánh thói quen ăn uống mang đi, mua sắm nhanh và các dịch vụ tiện ích gắn với du lịch biển.
Nghiên cứu cũng chỉ ra một nghịch lý, tỷ lệ tái chế cao không đồng nghĩa với tỷ lệ rò rỉ nhựa thấp. Ninh Bình có tỷ lệ thu gom tái chế rác nhựa lên tới hơn 47%, nhờ giá trị kinh tế của chai PET và sự tham gia mạnh mẽ của lực lượng thu gom phi chính thức.
"Tuy nhiên, tỷ lệ rò rỉ nhựa ra môi trường vẫn ở mức cao, khoảng 9%, tương đương gần nửa tấn mỗi ngày. Địa hình sông nước, hang động phức tạp và hệ thống thu gom tại khu vực nông thôn còn hạn chế là những nguyên nhân chính", báo cáo của UNDP chỉ ra.
Trong khi đó, Đà Nẵng có tỷ lệ tái chế thấp hơn, khoảng 14%, do phần lớn rác nhựa là túi nilon và hộp xốp có giá trị thấp, thường bị chôn lấp. Nhờ hạ tầng đô thị tương đối đồng bộ, tỷ lệ rò rỉ nhựa ra môi trường chỉ khoảng 0,75%. Tuy nhiên, lượng rò rỉ này chủ yếu trôi ra biển, gây tác động sinh thái nghiêm trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh điểm đến du lịch biển.
Thu gom rác thải tại Côn Đảo. Ảnh: Gia Chính
Một điểm nghẽn mang tính hệ thống được nghiên cứu chỉ ra là sự đứt gãy trong khâu thu gom và trung chuyển. Tại nhiều nơi, doanh nghiệp du lịch đã phân loại rác tại nguồn, nhưng rác lại bị trộn lẫn trong quá trình thu gom, khiến nỗ lực phân loại trở nên hình thức, làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và cộng đồng.
Về hành vi, khoảng cách giữa nhận thức và hành động vẫn còn lớn. Dù 95-100% doanh nghiệp được khảo sát thừa nhận tác hại của rác nhựa, hơn 80-95% vẫn tiếp tục cung cấp đồ nhựa dùng một lần. Chi phí của sản phẩm thay thế, sự tiện lợi và thiếu nguồn cung ổn định là những rào cản chính. Với du khách, dù nhiều người thể hiện sự ủng hộ đối với du lịch xanh, phần lớn chỉ sẵn sàng trả thêm dưới 10% chi phí chuyến đi cho các hoạt động bảo vệ môi trường.
UNDP đã lượng hóa chi phí của việc không hành động. Tại Ninh Bình, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nhựa ước tính khoảng 606,7 tỷ đồng mỗi năm, tương đương 3% doanh thu du lịch, trong đó phần lớn là tổn thất thương hiệu và khả năng quay lại của du khách.
Tại Đà Nẵng, con số này lên tới khoảng 1.747 tỷ đồng mỗi năm, tương đương 6,5% doanh thu du lịch, bao gồm chi phí thu gom, xử lý rác, khắc phục sự cố hạ tầng và mất phân khúc khách du lịch cao cấp.
Ông Hà Văn Siêu, Cục phó Du lịch Quốc gia Việt Nam nhấn mạnh giảm thiểu rác thải nhựa không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển du lịch bền vững, xanh và có trách nhiệm.
Theo ông, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam cam kết lắng nghe, tiếp thu các kết quả nghiên cứu, ý kiến tham vấn và khuyến nghị được đưa ra làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách, định hướng phát triển sản phẩm, cũng như tăng cường phối hợp liên ngành nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong ngành du lịch.
"Đây là chiến lược mang lại lợi ích kép, vừa bảo vệ cộng đồng, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch quốc gia, vừa giữ vững giá trị thương hiệu du lịch Việt Nam"", ông nói.
Gia Chính