Maersk - tập đoàn logistics, vận tải biển của Đan Mạch đang đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam, từ các dự án hạ tầng kho cảng đến các sáng kiến phát triển bền vững như triển khai xe tải điện hạng nặng. Dịp này, ông Kevin Burrell, Giám đốc Điều hành Maersk Khu vực Mekong (Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Myanmar) chia sẻ về góc nhìn về xu hướng thương mại toàn cầu đang định hành lại ngành logistics của Việt Nam và năng lực của tập đoàn trong việc hỗ trợ khách hàng thích ứng linh hoạt, bền vững.
Ông Kevin Burrell, Giám đốc Điều hành Maersk Khu vực Mekong. Ảnh: Maersk
- Theo ông, những xu hướng thương mại nào đang dẫn dắt tăng trưởng của ngành logistics Việt Nam hiện nay?
- Một trong những động lực tăng trưởng lớn nhất hiện nay là các chính sách thương mại thay đổi, đặc biệt của Trung Quốc và Mỹ, ảnh hưởng đến các trung tâm sản xuất, logistics toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam gần đây rất tích cực đàm phán thương mại với Mỹ và trên thực tế đã giành được không ít những điều khoản thương mại có lợi. Điều đó dẫn đến làn sóng đầu tư lớn. Các khoản đầu tư tập trung ở khu vực miền Bắc và miền Nam và có thể là sẽ ở miền Trung trong thời gian tới. Bên cạnh đó, chúng ta đang chứng kiến cơ sở hạ tầng và hoạt động sản xuất ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, dẫn đến nhu cầu logistics cũng tăng lên cả đường biển và hàng không.
- Bên cạnh nhu cầu tăng, thay đổi chuỗi cung ứng toàn cầu như ông vừa nêu đang định hình lại ngành logistics Việt Nam như thế nào?
Khi nói về tác động của chuỗi cung ứng toàn cầu, có thể thấy sự thay đổi lớn và rõ nét là sự dịch chuyển trong luồng thương mại hàng hóa giữa Trung Quốc và Mỹ. Thay vì xuất khẩu trực tiếp hàng hóa hoàn chỉnh, các trung tâm sản xuất phục vụ thương mại song phương đang được phân bổ sang nhiều quốc gia.
Trong bối cảnh này, một số doanh nghiệp tiếp tục ở lại Trung Quốc, trong khi nhiều đơn vị dịch chuyển hoặc cân nhắc các điểm đến khác, không chỉ do chính sách thương mại mà còn nhằm tiếp cận nguồn nguyên liệu và lao động dồi dào. Việt Nam vì vậy đứng trước cơ hội thu hút sản xuất, tạo việc làm nhờ lợi thế về chi phí lao động và hạ tầng ngày càng cải thiện.
Tuy nhiên, các yếu tố chính sách còn nhiều bất định khiến nhà đầu tư thận trọng, thường cân nhắc Việt Nam với các thị trường như Thái Lan, Campuchia và lựa chọn chiến lược phân tán rủi ro. Trong bối cảnh đó, yêu cầu về tính linh hoạt trở thành bài toán trọng tâm khi doanh nghiệp xây dựng chiến lược chuỗi cung ứng.
- Trong bối cảnh thách thức lẫn cơ hội, công ty đang hỗ trợ khách hàng thích ứng ra sao?
- Maersk thành lập pháp nhân tại Việt Nam từ 35 năm trước, khởi đầu là doanh nghiệp vận tải biển và hiện phát triển thành nhà cung cấp dịch vụ hậu cần tích hợp, bao phủ nhiều phân khúc trong chuỗi cung ứng. Nền tảng này giúp Maersk duy trì mức độ linh hoạt cao trong việc hỗ trợ khách hàng xây dựng và điều chỉnh chiến lược chuỗi cung ứng.
Doanh nghiệp vừa đóng vai trò tư vấn, vừa cung cấp đa dạng giải pháp vận tải nhằm đáp ứng nhu cầu vận hành linh hoạt của khách hàng. Trong trường hợp khách hàng chuyển dịch nhà máy, Maersk có các bộ phận chuyên trách hỗ trợ quá trình này. Bên cạnh vận tải đường biển, công ty còn triển khai kho tổng hợp, kho ngoại quan, vận tải đường bộ và các dịch vụ hỗ trợ liên quan khác.
Gần đây, Maersk công bố đưa vào vận hành đội xe tải điện hạng nặng, hướng tới hỗ trợ khách hàng thực hiện mục tiêu vận hành bền vững. Tổng thể, chiến lược của Maersk là phát triển hạ tầng logistics tích hợp, có tính bổ trợ và định hướng bền vững, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việc triển khai xe tải điện phù hợp với mục tiêu của Maersk nhằm đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2040. Ảnh: Maersk
- Động lực triển khai xe tải điện của Maersk ở Việt Nam là gì?
- Maersk đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2040 trên toàn bộ hoạt động toàn cầu, trong đó có kế hoạch triển khai tại Việt Nam với việc đưa vào vận hành xe tải hạng nặng chạy bằng điện. Sáng kiến này xuất phát từ nhu cầu của khách hàng trong việc giảm phát thải xuyên suốt chuỗi cung ứng, đồng thời phù hợp định hướng phát triển bền vững của Chính phủ Việt Nam.
Nhiều khách hàng hiện đã xây dựng chiến lược và sáng kiến nhằm cắt giảm phát thải, coi phát triển bền vững là ưu tiên dài hạn. Việc Maersk đầu tư vào phương tiện vận tải chạy điện là một trong những giải pháp đáp ứng xu hướng này. Tuy nhiên, chi phí và hiệu quả kinh tế vẫn là yếu tố cần cân nhắc, do đó chúng tôi tập trung từng bước tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả vận hành của các phương tiện chạy điện theo thời gian.
- Tiến độ cụ thể của việc triển khai xe tải điện tại Việt Nam đến đâu?
- Hiện việc triển khai vẫn ở quy mô nhỏ, tập trung thử nghiệm và đánh giá hiệu quả trong giai đoạn đầu. Mục tiêu dài hạn của Maersk là đến năm 2040 thay thế toàn bộ đội xe diesel bằng xe điện, phù hợp với cam kết Net Zero của tập đoàn. Trước mắt, đến năm 2030, khoảng 45% đội xe dự kiến được chuyển sang phương tiện vận tải điện. Nếu kết quả thử nghiệm tích cực, tiến độ có thể được đẩy nhanh.
Yếu tố then chốt là đạt được sự cân bằng chi phí giữa xe điện và phương tiện truyền thống. Maersk đã thử nghiệm xe điện tại 14 quốc gia và tại một số thị trường đã đạt mức ngang bằng chi phí, nhờ chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện và phát triển hạ tầng điện khí hóa. Việc triển khai sớm sẽ giúp cải thiện chất lượng không khí và giảm tác động môi trường từ các phương tiện cũ.
- Những thách thức nào Maersk gặp phải khi triển khai xe tải điện tại Việt Nam?
- Chi phí đầu tư ban đầu cho xe điện cao hơn so với xe diesel. Tuy nhiên, nếu tính tổng chi phí nhiên liệu và bảo trì, xe điện có lợi thế về dài hạn và có khả năng đạt cân bằng chi phí.
Về hạ tầng, Maersk đang hợp tác với các đối tác để phát triển mạng lưới điện khí hóa, ưu tiên các tuyến có nhu cầu vận hành cao, đồng thời đầu tư hệ thống trạm sạc riêng. Do triển khai ở quy mô nhỏ, chi phí bình quân hiện vẫn ở mức cao. Ở góc độ dài hạn, nếu Việt Nam hướng tới chuyển đổi toàn bộ phương tiện vận tải sang xe điện vào năm 2050, sẽ cần chiến lược hạ tầng đồng bộ, đặc biệt với các tuyến dài như Bắc - Nam, nơi yêu cầu bố trí trạm sạc hợp lý do giới hạn quãng đường di chuyển của xe điện.
Một thách thức khác là mục tiêu Net Zero của Maersk đặt ra cho năm 2040, sớm hơn lộ trình chung của Việt Nam. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải nỗ lực nhiều hơn, đồng thời cần sự hợp tác giữa các bên liên quan để từng bước tháo gỡ khó khăn.
- Ngoài xe tải điện, hành trình phát triển bền vững của Maersk tại Việt Nam hỗ trợ khách hàng ra sao?
- Chuyển đổi năng lượng là ưu tiên của Maersk, với việc triển khai nhiều sáng kiến giảm phát thải trên toàn chuỗi cung ứng. Xe tải điện chỉ là một phần trong tổng thể giải pháp. Doanh nghiệp đồng thời cải thiện hiệu quả mạng lưới vận chuyển và tối ưu cách thức vận hành tàu trong đó có việc sử dụng các loại nhiên liệu thay thế có mức phát thải thấp.
Thông qua các sản phẩm như Eco Delivery cho vận tải đường biển, đường bộ và đường hàng không, Maersk hỗ trợ khách hàng giảm phát thải và tiến tới khử carbon trong chuỗi cung ứng, đồng thời duy trì hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh.
Thế Đan